14-03-2014, 10:29

ĐIỀN DÃ, SƯU TẦM ÂM NHẠC VÀ MÚA DÂN GIAN NGƯỜI KHƠ ME VÀ
CHĂM ISLAM  TẠI TỈNH AN GIANG

(thuộc dự án Hỗ trợ văn hóa Việt Nam vì sự phát triển
bền vững 2005-2009 do q
ACuỹ Sida Thụy Điển tài trợ)

 

   Nguyễn Hiền Đức - Nguyễn Đình Lâm

 

Từ ngày 14 tháng 3 đến 15 tháng 4 năm 2007, Viện Âm nhạc đã tổ chức điền dã,
khảo sát, sưu tầm âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn của các tộc Khơ me và Chăm
ở tỉnh An Giang. Địa bàn điền dã: xã Ô Lâm, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn; xã An
Hảo, xã Vĩnh Trung huyện Tịnh Biên; ấp La Ma, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú;
ấp Châu Giang, xã Phú Tân, huyện Phú Tân; xã Châu Phong, huyện Tân Châu; xã
Khánh Hòa, huyện Châu Phú.

Nhóm thực hiện dự án: TS Lê Văn Toàn - Viện trưởng Viện Âm nhạc, đại diện
cơ quan thực hiện dự án, Nguyễn Hiền Đức - nghiên cứu viên, Nguyễn Đình Lâm -
nghiên cứu viên, Nông Thị Nhình - nghiên cứu viên, Nguyễn Quốc Hân - quay
phim, Trần Hải Đăng - kỹ sư âm thanh, Nguyễn Anh Dũng - kỹ sư âm thanh,
Nguyễn Trần Khánh - kỹ thuật hiện trường, Đinh Văn Thắng - kỹ thuật hiện trường,
Nguyễn Ngọc Long - chụp ảnh, Nguyễn Văn Thưa, Nguyễn Trọng Anh, cùng các
cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang: Trần Mỹ Hạnh, Phan
Thành Phước, Trần Xuân Tâm.

 

An Giang nằm ở phía Tây Nam Bộ (miền Nam Việt Nam), là nơi đầu tiên của vùng đồng bằng sông Cửu Long tiếp nhận nguồn nước sông Mê Kông, có hai con sông Tiền, sông Hậu chảy qua. Phía tây bắc tỉnh An Giang giáp Campuchia với 97 km đường biên giới, tây nam giáp tỉnh Kiên Giang, đông nam giáp tỉnh Cần Thơ, đông bắc giáp tỉnh Đồng Tháp. An Giang có diện tích tự nhiên 3.424 km2, dân số 2,12 triệu người, gồm các dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khơ me, trong đó người Khơ me là dân tộc đã định cư lâu đời, sau đó là người Việt, người Chăm và người Hoa.

 

DÂN TC KHƠ ME

 

1. Khái quát về đời sống và văn hóa của người Khơ me ở An Giang

Người Khơ me còn có những tên gọi khác như: Cul, Cu, Việt gốc Miên, hay Khơ me Krôm. Ngôn ngữ Khơ me thuộc nhóm Môn-Khơ me. Người Khơ me sống tại các tỉnh như Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang. Tại An Giang, người Khơ me sống tập trung ở huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Đây là các huyện có đường biên giới Việt Nam - Campuchia. Ngoài ra, họ còn sống xen kẽ, rải rác với các dân tộc khác như Kinh, Hoa, Chăm trong một số các huyện, thị còn lại ở tỉnh An Giang.

- Tổ chức xã hội: phum, sóc là những đơn vị tổ chức xã hội truyền thống của đồng bào. Theo truyền thống xưa, những người có tuổi, có kinh nghiệm sản xuất sẽ đứng đầu các phum, sóc, theo hình thức tự quản, ngoài ra còn có sự tham gia của các vị sư sãi và ban quản trị chùa. Đối với người Khơ me, hình thức tổ chức đại gia đình xưa bao gồm cha mẹ, con cái và đôi khi còn bao gồm cả các anh em bên mẹ cùng sống trong một ngôi nhà sàn. Ngày nay, hình thức tổ chức này không còn mà đã hòa nhập với cuộc sống mới. Người Khơ me chuyển sang làm các ngôi nhà trệt, với gia đình tiểu phụ quyền, hôn nhân một vợ một chồng bền vững.

- Tôn giáo, tín ngưỡng: Phật giáo Nam tông đã chi phối sâu sắc trong đời sống tinh thần của đồng bào Khơ me. Triết lý Phật giáo đã trở thành tư tưởng chủ đạo trong ý thức hệ từ bao thế hệ. Đối với người Khơ me, chùa chiền vừa là nơi thực hành tín ngưỡng, vừa là nơi cất giữ hài cốt của các Phật tử, nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, nơi dân họp bàn những việc công ích, nơi đón tiếp quí khách của phum. Tại một số địa phương, chùa còn đảm nhiệm vai trò như một thư viện lưu giữ những pho sách cổ, đôi khi chùa còn được ví như một bảo tàng thu nhỏ của người Khơ me.

- Nông nghiệp: người Khơ me kế tục thành tựu của những cư dân khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long trong nghề trồng lúa nước, làm rẫy định canh hoặc luân canh. Trên đất rẫy, người Khơ me trồng lúa và các loại hoa mầu như đậu, khoai, ngô, mía và các loại rau... Bên cạnh đó là phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, sản xuất đường, bánh đặc sản từ việc khai thác cây thốt nốt. Tại vùng có nhiều khe suối, sông rạch, đồng bào còn đánh bắt cá, dùng trâu bò để cày, kéo.

- Tiểu thủ công nghiệp: đan lát, dệt, trong đó có cả nghề nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa, dệt sampót (váy) có hoa văn là những công việc thường thấy trong các gia đình bà con Khơ me. ở một số nơi còn có nghề gốm bằng bàn rập để sản xuất ra các gia cụ bằng gốm, dùng trong gia đình. Nhiều sản phẩm trang trí đạt đến trình độ nghệ thuật cao.

- Trang phục truyền thống: người Khơ me mặc váy, với kiểu cách khá đặc biệt. Váy được quấn từ trước ra sau và luồn qua hai chân, giống như quần hai ống phổ thông. Đây là nét đặc trưng trong phong tục tập quán của đồng bào nơi đây.

- Hôn nhân gia đình: người Khơ me theo chế độ mẫu hệ nên vai trò của người con gái rất được coi trọng. Người Khơ me coi trọng chọn vợ cho con và đặc biệt quan tâm đến đức hạnh và dòng họ của người con gái. Đám cưới truyền thống của người Khơ me xưa phải đủ các thủ tục như: lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi, lễ xin cưới và lễ cưới. Xưa kia, người Khơ me dựng vợ gả con đều theo sự sắp xếp và ưng thuận của gia đình và phải nhờ thầy coi tuổi có hợp thì mới làm lễ dạm hỏi. Sau lễ dạm hỏi là các lễ ăn hỏi, lễ xin cưới và lễ cưới. Lễ cưới thường được diễn ra vào mùa khô, sau khi mùa màng đã thu hoạch xong. Đám cưới truyền thống của người Khơ me gọi là Pơ ran, thường được diễn ra trong 3 ngày với nhiều nghi thức và thủ tục. Trong đám cưới này phải có ba người hướng dẫn đám cưới là ông Achar Pelea và hai ông Mahan.

Ngày đầu tiên là ngày nhập gia hay ngày dựng rạp. Tối đến có tổ chức tiệc trà với sự tham gia của các bạn bè, bà con làng xóm, có sự góp vui của dàn nhạc truyền thống và nhảy múa Lâm thon. Ngày thứ hai là ngày cưới - ngày đưa rể. Sáng sớm, nhà trai làm lễ đưa con trai tới nhà gái dưới sự hướng dẫn của ông Achar và ông Mahan. Trước kia để đoàn đưa rể thêm sinh động, vui vẻ người ta mời thêm dàn nhạc đi theo. Khi đến cổng nhà trai muốn vào được thì ông Mahan[1] phải bày một mâm lễ vật dâng bên nhà gái và rút dao ra múa gọi là múa mở rào. Các thủ tục sau đó là cúng ông bà và ăn trầu đính ước. Buổi chiều làm lễ cắt tóc cho cô dâu và chú rể. Tối đến họ mời sư đến tụng kinh cầu phúc cho đôi vợ chồng. Khoảng 10h đêm trở đi là các thủ tục gói bánh để cúng Phật và dâng cha mẹ cô dâu để đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Tới 12h đêm họ làm thủ tục nhuộm răng cho cô dâu và ông Achar làm lễ cắt buồng bông cau. Ngày thứ ba- ngày lễ lạy ông bà bao gồm các việc: lạy bàn trời, lễ rắc hoa cau, lễ rút gươm ra khỏi bao, lễ mở nắp mâm trầu, lễ cột chỉ tay, lễ nhập phòng, lễ quét chiếu và lễ chung giường. Trong lễ còn có sự kết hợp của cả nghệ thuật múa dân gian với các nghi thức lễ như lễ mở rào, lễ cắt tóc, lễ cột chỉ tay. Những năm trở lại đây, đám cưới người Khơ me đã rút ngắn hơn về thời gian với các thủ tục đơn giản và ít tốn kém hơn.

- Tang ma: đối với gia đình Khơ me nghèo thường làm lễ hỏa táng, đối với gia đình kinh tế khá hơn có thể hỏa táng hoặc chôn cất, rồi sau đó mới bốc cốt đem hỏa táng. Họ để thi hài người quá cố tại nhà một đêm để tạo điều kiện cho bà con trong phum sóc đến thăm viếng. Họ thường tránh an táng hay hỏa táng vào ngày chủ nhật. Nơi an táng của đồng bào là ở chùa mà gia đình thường xuyên đến cúng hay làm phước. Trong đám tang thường có sự tham gia của dàn nhạc gồm có trống, đàn cò và kèn, hoặc dàn nhạc ngũ âm. Cùng với đó là mời các sư đến tụng kinh niệm Phật, cầu mong cho linh hồn được siêu thoát.

- Lễ hội: các nghi lễ cúng liên quan tới Phật và các vị chư thần khác, diễn ra hầu như trong tất cả các tháng của năm, chi phối toàn bộ đời sống tinh thần của người Khơ me. Lễ hội Chôl Chnăm Thmây - ngày tết cổ truyền của người Khơ me. Đây được coi là lễ chịu tuổi lớn nhất của người Khơ me, diễn ra vào các ngày 13-15/4 dương lịch. Trong những ngày này, không khí tết rộn ràng khắp các phum, sóc. Các cô gái Khơ me xinh đẹp trong trang phục truyền thống dân tộc rực rỡ sắc mầu, nhịp nhàng quyến rũ với điệu múa Rom vông hoặc các thể loại văn nghệ và các trò chơi dân gian khác. Bên cạnh đó các tục lệ như đắp núi cát là không thể thiếu tại các điểm chùa Khơ me. Người Khơ me quan niệm rằng, mỗi hạt cát được đắp lên sẽ xóa được một tội lỗi và giải thoát được một linh hồn dưới địa ngục. Núi cát còn được ví như đám mây mang mưa cho vụ mùa khô hạn tháng 5, 6. Ngày cuối cùng của tết Chôl Chnăm Thmây, các chùa đều tổ chức nghi lễ tắm Phật với ước nguyện trong năm mới người Khơ me có cuộc sống an vui, làm ăn thuận lợi. Lễ Phật đản được tổ chức vào ngày 15/5 theo Phật lịch của phái tiểu thừa, với ý nghĩa mừng Đức Phật ra đời, cầu mong cho Phật giáo được vinh quang.

Lễ Đôn ta (lễ cúng ông bà) đây là một lễ hội lớn mang tính truyền thống của người Khơ me để biểu lộ lòng tưởng nhớ, biết ơn đến các vị tổ tiên và công lao của những người đã khuất. Lễ được tổ chức trong 3 ngày, bắt đầu từ ngày 8 tháng 10 âm lịch hàng năm.

Lễ Ok Om Bok (lễ cúng trăng) được tổ chức vào ngày 14, 15 tháng 10 âm lịch. Lễ này gắn với sự tích con thỏ trên mặt trăng. Tương truyền, 500 năm trước, tiền kiếp của Đức Phật sinh ra, thỏ tự nhảy vào lửa, nướng mình làm thức ăn cho Bà La Môn, nên được in hình trên mặt trăng, nêu gương cho mọi người. Người Khơ me cũng tin rằng, nhờ có mặt trăng mà nước lớn, nước ròng, có mưa thuận gió hòa, thuận lợi cho nghề nông của họ. Thời điểm này cũng dần chuyển từ mùa mưa sang mùa khô nên bắt đầu thu hoạch mùa màng, trong đó có nếp mới. Nên trong dịp Ok Om Bok, cốm dẹp là lễ vật không thể thiếu.

Lễ Bon đa (lễ dâng phước) bắt nguồn từ truyện cổ tích trong kinh điển Phật giáo. Truyện kể rằng “Ngày xưa có nàng Milika là vợ vua Pakasêti Kôsol xứ Savathay. Nàng thường làm phước từ nhỏ, nhưng phạm phải lỗi lầm là nói dối chồng và không chung thủy, do đó, khi chết bị đày xuống địa ngục. Lúc này, Đức Phật còn tại thế, nhà vua đến hỏi Đức Phật tại sao vợ ông hay làm phước mà lại bị đày xuống địa ngục. Đức Phật không trả lời ngay mà đợi vợ ông ở dưới địa ngục được bảy ngày mới trả lời và bảo nhà vua về làm phước để dâng phước lành cho vợ được siêu thoát lên cõi Niết Bàn”. Dựa vào sự tích này, sau khi người chết được bảy ngày người ta mới làm lễ Bon đa. Buổi tối họ làm lễ tam bảo, thọ ngũ giới, mời sư về tụng kinh. Sáng hôm sau, sư sãi tiếp tục tụng kinh để cầu siêu, cầu phước, sau đó đem lễ vật vào chùa.

2. Âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn dân gian của người Khơ me

Âm nhạc là một phần không thể thiếu được trong các dịp lễ hội như lễ Chôl Chnăm Thmây hay lễ Đôn ta hay lễ Ok Om Bok của người Khơ me cũng như phục vụ các cuộc vui chơi, sinh hoạt tập thể, sản xuất và chiến đấu trong các thời kỳ của lịch sử.

2.1. Một số loại hình nghệ thuật của người Khơ me ở An Giang

- Cherm pây là lối hát độc diễn, gắn với cây đàn Chapây cần dài. Âm nhạc mang tính chất tự sự, kể lể. Nghệ nhân vừa đánh đàn vừa hát theo lối ứng tác. Do vậy mỗi lần hát là mỗi lần sáng tạo của người nghệ nhân. Nội dung lời ca là kể những sự tích, những câu truyện cổ.

- Pliênh ka (nhạc đám cưới): trình diễn âm nhạc truyền thống là một phần không thể thiếu được khi tổ chức cưới theo phong tục cổ truyền của người Khơ me. Âm nhạc diễn ra trong ngày lễ thành hôn không chỉ mang lại không khí vui tươi mà nó còn tham gia vào từng phần trong nghi thức cưới dưới sự hướng dẫn của thầy Mahan. Khi ấy, dàn nhạc cổ truyền (Prô pêl ni Khơ me) phải chơi các bài bản theo qui định. Nếu coi mỗi bài hát, bản nhạc là một thành phần hoàn chỉnh trong cả diễn trình của đám cưới, thì khi tập hợp và sắp xếp chúng lại, sẽ có một liên ca khúc phản ánh mọi nghi thức trong đám cưới truyền thống của người Khơ me. Dàn nhạc đám cưới là dàn nhạc dân gian bao gồm các nhạc cụ dây kéo (truô u và truô so), dây gõ (khưm), dây gảy (tà khê) và nhạc cụ gõ (skô thum)[2]. Các bản nhạc tiêu biểu là: Hom rol, Nôm neng, Canh xen cơ hom, Som Pol. Đây là những bài nhạc cổ truyền, thường dùng trong đám cưới của người Khơ me. Người Khơ me quan niệm, đám cưới phải có âm nhạc truyền thống và phải trải qua đủ các lễ tục mới được coi là hoàn thiện.

- Pin peat (nhạc ngũ âm): nếu kiểu cấu trúc dàn nhạc dân gian Khơ me dùng trong đám cưới, các sinh hoạt văn nghệ trong phum, sóc thiên về các nhạc cụ dây kéo, dây gảy mang đặc tính trữ tình, thiết tha thì dàn nhạc dùng trong các đại lễ ở chùa lại thiên về các nhạc cụ tự thân vang. Dàn nhạc Ngũ âm gồm các nhạc cụ: rôneat thung, rôneat đék, kuôn, skô samphô, skô thum pi, srolai. Dàn nhạc này thường có mặt trong những dịp lễ khánh thành, lễ dâng y (y phục sư sãi), dâng hoa (trong tháng 11 dương lịch, tháng rước Phật), đám cải táng (gia đình giầu mới thuê), lễ Đôn ta, lễ Chôl Chnăm Thmây. Trước khi hòa tấu dàn nhạc ngũ âm thì phải làm lễ cúng chư tổ (Kru đôm) để nhớ ơn các vị tiền bối đã sáng tạo ra nhạc cụ và bài bản. Các bài nhạc truyền thống và tiêu biểu của nhạc ngũ âm là: Keo non, Keo nai, Chớt. Keo non là bài nhạc kêu gọi thông báo đến bá tánh (tín đồ) biết được địa điểm tổ chức của cuộc lễ. Đây là một hình thức thông báo, chuẩn bị các nghi thức trong lễ. Keo nai là bài nhạc chơi góp phần cho lễ hội thêm phần long trọng. Chớt là bài nhạc báo hiệu kết thúc một buổi diễn trong ngày (có thể một ngày 3, 4 lần biểu diễn)[3].

- Múa trống chhay dăm: người Khơ me có nhiều điệu múa, trong đó múa trống chhay dăm là một điệu múa nằm trong hệ thống múa dân gian. Số người tham gia múa trống chhay dăm thường gồm có 4 người vỗ 4 trống chhay dăm, 2 người múa, 1 người đánh kuôn và 1 người hát. Điệu múa này thường được múa trong dịp lễ dâng y, lễ dâng bông, lễ Ok Om Bok.

- Múa Rôm Vông: người Khơ me có hai loại múa là múa trong sinh hoạt cộng đồng và múa sân khấu cổ điển. Múa Rôm Vông thuộc loại múa trong sinh hoạt cộng đồng, đám cưới và mừng nhà mới, Tết Chol Chnăm Thmây, lễ Đôn Ta... Múa Rôm Vông theo từng đôi trai gái, điệu múa đơn giản về động tác, nữ múa lượn hai cánh tay ra trước ngực, nam thì lượn cánh tay ra rộng để che chở cho bạn múa của mình. Trong múa Rôm Vông, những cánh tay uốn éo, mềm dẻo lúc uốn sang trái, lúc lượn sang phải theo điệu nhạc dập dìu nhưng không chạm vào thân thể nhau. Sau mỗi bước nhún, đội hình di chuyển lên phía trước theo vòng tròn. Múa Rôm Vông càng đông càng vui, sau khi kết thúc mọi người thường dừng lại chắp tay chào nhau.

- Múa Xa ra van: cũng như múa Rôm Vông, không gian trình diễn của múa Xa ra van cũng là trong các sinh hoạt cộng đồng, các dịp Tết Chôl Chnăm Thmay, lễ Đôn Ta, ók Om Bok, đám cưới... Khi tiếng trống tiếng nhạc vang lên, mọi người tham gia cùng hát múa tạo nên không khí vui tươi, phấn khởi, thân ái, đoàn kết trong cộng đồng. Múa Sa ra van khá đơn giản về động tác, nhịp điệu chậm rãi, nhiều người có thể bắt chước và múa theo. Âm nhạc dùng cho múa là các bài hát truyền thống của Khơ me, được diễn tấu bởi đàn tà khê (dây gẩy), đàn khưm (dây gõ), đàn truô sô (dây kéo) và skô đai (nhạc cụ màng rung). Múa Xa ra van thường gồm từ 6 đến 12 người. Có nhiều loại múa Xa ra van như Xa ra van thường, Xa ra van chốt, Xa ra van ta lung và Xa ra van cơ rưng.

Có thể nói, múa đã là tố chất của người Khơ me, hầu như người nào cũng múa được. Ngoài ra còn nhiều điệu múa khác được sáng tạo, đúc kết từ trong sinh hoạt, lao động sản xuất, tập quán, tôn giáo-tín ngưỡng như múa gáo, múa nơm... Tuy nhiên, chuyến điền dã chưa có dịp để tiếp cận vì các loại hình này hiện nay không còn trình diễn trong cộng đồng của bà con Khơ me nơi đây. Cũng như vậy, dàn nhạc đám tang (Tét tót hay T’trai lét-tiếng gọi theo nhà Phật) chỉ chơi khi có người chết, do vậy mà trong dịp khảo sát thực địa chúng tôi chưa có dịp tiếp cận. Dàn nhạc này gồm có trống, kèn, đàn cò, đàn gáo, chiêng núm, thanh la.

-   Kịch hát Dì kê: theo những người am hiểu văn hóa, lịch sử nghệ thuật dân tộc Khơ me An Giang thì nơi đây tiếp nhận nghệ thuật Dì Kê chưa phải là lâu. Theo Ông Chau Onl, năm nay gần 90 tuổi ở xã Núi Tô cho biết vào năm ông 15-16 tuổi, ông đã biết tham gia tập dượt biểu diễn Dì kê phục vụ bà con ở các phum, sóc.

Câu chuyện trên sân khấu Dì kê là những truyện dân gian, thần thoại của dân tộc Khơ me và các dân tộc khác, thậm chí là của nước ngoài. Nhưng bao giờ các tuồng tích ấy cũng đều xoay quanh chủ đề “ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ”. Trong loại hình nghệ thuật này, câu chuyện tình Tum Tiêu là tác phẩm được đưa lên sân khấu nhiều nhất và chiếm được lòng say mê, ngưỡng mộ của cộng đồng người Khơ me Nam Bộ. Bởi vì, Tum Tiêu chính là một tác phẩm nói về những giá trị đích thực của cuộc sống, về hạnh phúc và bổn phận của con người. Con người phải đấu tranh chống lại những thô bạo trong cuộc sống, những bất công, áp bức và ca ngợi chính nghĩa, lòng thủy chung, cái đẹp và cái thiện.

Các bản nhạc tiêu biểu trong nghệ thuật Dì Kê gồm có: Non phi sa phai, Ka re duôl sa, No re no re, Chom paay chom pa. Non phi sa phai gắn với câu chuyện tình rất nổi tiếng Tum- Tiêu (trai-gái). Tum là một chàng trai nghèo, cha mẹ đã mất. Tiêu là cô gái con nhà giàu. Hai người rất yêu nhau nhưng do cha mẹ ham giầu mà ép duyên con gái với quan huyện. Biết được chuyện tình yêu chân thành của đôi trai gái, nhà vua đã ban lệnh cho chàng Tum được lấy Tiêu. Khi đám cưới sắp thành sự thì ông quan huyện biết và nghĩ cách trả thù. Sau đó, Tum đã bị lính nhà quan huyện bắt đi giết, khi biết chuyện nàng Tiêu cũng đến tự chết theo vì tình yêu sâu đậm giữa chàng Tum và nàng Tiêu. Đây là câu chuyện ca ngợi tình yêu chung thủy, sắt son trong đời sống lứa đôi. Ka re duôl sa trích từ câu truyện Chum pa quan, Sang sô quan. Truyện kể về cuộc đời tầm sư học đạo và công ơn dạy dỗ của người thầy. No re no re trích từ câu truyện nàng công chúa đi hái hoa trong rừng. Chom paay chom pa là bài hát ca ngợi về một loài hoa trong rừng (gần giống với hoa sứ).

2.2. Nhạc cụ của người Khơ me

Người Khơ me An Giang có một hệ thống nhạc cụ gồm đầy đủ các họ dây, họ hơi, họ màng rung và tự thân vang.

Họ dây kéo:

- Truô so là nhạc cụ dây kéo, giống với đàn nhị của người Kinh. Bầu đàn là một ống gỗ rỗng và chế tác bằng gỗ giáng hương, mặt đàn được bịt bằng da cá sấu. Đàn mắc 2 dây và lên dây theo quãng 4 hoặc quãng 5. Âm sắc của truô so thanh, vang, thường được dùng đi bè giai điệu, bè dẫn trong dàn hòa tấu.

- Truô u cũng có cấu tạo gần như  truô so, chúng chỉ khác nhau ở bầu đàn. Bầu đàn Truô được làm bằng gáo dừa, mặt đàn được bịt bằng gỗ ngô đồng. Truô u mang âm sắc trầm ấm, thường dùng để đi bè trung trong hòa tấu dàn nhạc.

- Khưm là nhạc cụ họ dây, chi gõ. Đàn có hình dáng và cấu tạo giống đàn tam thập lục của người Việt, gồm 36 dây. Cũng như đàn tam thập lục của người Việt, khưm của người Khơ me cũng có cấu tạo hình thang cân. Khung đàn được làm bằng gỗ cứng. Mặt đàn được làm bằng gỗ mềm, để tạo âm thanh có độ vang. Trên mặt đàn có khoét lỗ cộng hưởng âm thanh. Dây đàn được căng bởi các cọc khóa và ngựa đàn trên một mặt phẳng của hình thang cân. Mặt đàn có hai hàng đặt ngựa đàn. Ngoài cách lên dây bởi cọc khóa của đàn, thì các ngựa đàn cũng có thể xê dịch để điều chỉnh các dây đàn cao thấp tùy theo từng bài bản và các hệ âm. Dây đàn thường dùng bằng đồng hoặc dây sắt. Khi chơi người ta dùng hai chiếc búa nhỏ bằng tre dài khoảng 30-35cm, đầu gõ bằng tre có gắn miếng dạ gõ trên dây đàn để tạo ra âm thanh. Với đặc tính âm thanh trong trẻo, thánh thót, đàn khưm thể hiện tốt những bài vui tươi, nhí nhảnh, trữ tình. Người Khơ me chỉ dùng khưm trong dàn nhạc hòa tấu dân gian, cùng với các nhạc cụ như truô u, truô so, đàn tà khê và trống skô đai hoặc đệm nhạc trong sân khấu Dì kê và ca hát dân gian.

- Tà khê là nhạc cụ dây gảy (đàn gảy nằm). Theo tiếng Thái Lan, đàn tà khê có nghĩa là con cá sấu vì nó có hình thù giống như con cá sấu nhỏ. Đàn dài khoảng 1,2m, chiều cao của thành đàn khoảng 15cm, tạo thành một thùng cộng hưởng lớn. Đàn tà khê mắc 2 dây, gắn 12 phím. Dây đàn bằng cước được mắc một đầu ở cọc khóa và một đầu vào tay vặn để điều chỉnh âm thanh cao thấp. Đặc tính âm thanh của đàn là trầm ấm. Khi biểu diễn đàn để nằm, tay phải gảy bằng móng gảy, các ngón tay trái chặn dây đàn. Vì các phím đàn được gắn cao hơn so với mặt đàn nên người trình diễn dễ dàng tạo các âm rung, nhấn mỗi khi thể hiện. Tà khê thường được dùng hòa tấu với các nhạc cụ như truô u, truô so, khưm và trống trong sân khấu Dì kê, ca hát dân gian hoặc nhạc đám cưới.

- Chà pây có cần dài mắc hai dây, trên cần gắn 12 phím. Nhạc cụ này chỉ dùng để độc tấu hoặc đệm cho hát, không dùng trong hòa tấu.

Họ hơi:

- Srolai là một nhạc cụ hơi, chi dăm kép. Thân kèn làm bằng cây gỗ cứng, cọc dăm là một ống kim loại. Kèn srolai thường dùng để hòa tấu trong dàn nhạc ngũ âm, đôi khi cũng kết hợp với trống lớn và đàn truô so, dùng trong các sinh hoạt tín ngưỡng hay đám tang. 

Họ màng rung:

- Skô Dì kê là nhạc cụ hệ màng rung. Tang trống là các thanh gỗ được làm từ thân cây dừa hoặc cây thốt nốt ghép lại với nhau hoặc nguyên cả khúc cây khoét rỗng. Mặt trống được căng bởi hệ thống dây chằng. Hệ thống dây này được nối trực tiếp từ mặt trống qua vòng ngoài của tang trống với một vòng tre và được làm căng bởi các con chèn bằng gỗ ở thành trống. Muốn có những âm thanh phù hợp, người ta còn dùng dây thừng chèn bên dưới mặt trống. Khi chơi, người ta đặt trống dựng đứng trên đùi, tạo một góc vuông với người chơi, cánh tay đè lên tang trống, hai bàn tay vỗ trực tiếp vào mặt trống. Tùy theo vị trí vỗ, người chơi tạo ra được các âm thanh vang, ấm, trầm bổng phù hợp với nội dung của bản nhạc. Là loại trống bịt da một mặt, skô Dì kê thường được dùng trong hòa tấu dân gian với vai trò đệm, giữ nhịp và tạo tiết tấu cho các điệu múa, nhất là nhạc múa Dì kê.

- Skô đai là nhạc cụ họ màng rung. Thuộc loại trống một mặt, tang trống được chế tác từ một khúc gỗ nguyên, có hình dáng thắt cổ chai. Skô đai dài 30cm, đường kính mặt trống khoảng 18cm. Trên thành có chạm các hình hoa văn đẹp mắt. Skô đai được sử dụng bằng cách vỗ trên mặt trống. Tiết tấu của trống linh hoạt rất phù hợp với các loại ca hát múa dân gian, với các sinh hoạt phong tục phong phú của người Khơ me.

- Skô chhay dăm là nhạc cụ họ màng rung. Trống một mặt, dài khoảng 1m, đường kính mặt trống 30cm có hình dáng giống với chân con voi, vì vậy người Khơ me còn gọi là trống chân voi. Skô chhay dăm được làm từ một khúc gỗ nguyên. Trống có một đầu to và một đầu nhỏ. Khi trình diễn người ta đeo trống trên người, rồi vỗ hoặc đập tay trên mặt trống, đôi khi còn dùng cùi tay, tùy vào sự linh hoạt và tài năng của người trình diễn. Âm thanh của trống trầm ấm. Nhạc cụ khá gần gũi với đời sống sinh hoạt tại các phum, sóc trong các dịp lễ tết, hội, hè. Skô chhay dăm không chỉ là nhạc cụ mà còn là một đạo cụ trong khi múa.

- Skô samphô là một loại trống hai mặt. Skô samphô có chiều dài khoảng 70-80cm, đường kính mặt trống chừng 30-35cm. Trống được làm từ các thanh gỗ ghép lại và gắn với nhau bằng sơn hoặc nhựa cây. Trống được đặt chắc chắn trên một giá thấp và có quai xách. Khi chơi trống, người ta dùng cơm bóp nhuyễn rồi dán trên hai mặt trống, sau đó dùng hai bàn tay vỗ vào hai mặt trống để tạo ra các tiết tấu sống động, rộn ràng. Skô samphô thường có mặt trong dàn nhạc ngũ âm, cùng với các nhạc cụ gõ khác như kuôn, đàn rôneat biểu diễn vào ngày tết cổ truyền và các ngày lễ hội lớn trong năm.

- Skô thum pi là một đôi trống, loại trống hai mặt, chiều dài tang trống khoảng 75-85cm, đường kính mặt trống khoảng 40cm. Trống được để trên giá đỡ và xếp sao cho mặt trống đối diện và thuận tiện cho tư thế ngồi gõ của người đánh. Trống có tay xách. Âm thanh của trống hùng trầm mang tính kêu gọi, giục giã. Khi chơi người ta dùng 2 dùi gỗ để gõ. Skô thum pi tham gia hòa tấu trong dàn nhạc ngũ âm.

Họ tự thân vang:

- Rôneat thung là nhạc cụ họ tự thân vang, chi gõ. Nhạc cụ cấu tạo gồm 20 thanh đàn bằng gỗ dài từ 30-40cm. Chúng được mắc thành dàn, theo một trật tự từ dài đến ngắn. Các thanh đàn được treo vào một hộp đàn hình thuyền.  Người ta chơi đàn rôneat thung bằng hai chiếc dùi gỗ. Đầu dùi tròn bọc cao su. Hai dùi được liên kết bởi một sợi dây. Sợi dây được điều chỉnh dài vừa đủ để khi người chơi đàn dùng hai tay cầm hai dùi gõ dễ dàng tạo ra các chồng âm quãng 8. Tiếng đàn rôneat thung trong, vang, ấm của chất liệu gỗ. Thang âm của đàn là hệ 7 âm chia đều. Đặc điểm của đàn rôneat thung là rất thuận lợi cho việc diễn tấu những giai điệu có tiết tấu nhanh, vuốt, láy rền. Rôneat thung có mặt trong dàn nhạc ngũ âm để tham gia trình diễn vào các ngày tết, ngày lễ cúng Phật lớn trong năm của người Khơ me Nam Bộ. Rôneat thung cũng có thể dùng để tham gia vào các hòa tấu thính phòng, sân khấu dân gian...   

- Rôneat đek cũng tương tự như rôneat thung, gồm 20 thanh kim loại theo hệ âm 7 cung chia đều, được sắp xếp theo thứ tự từ lớn đến bé và đặt trên thùng đàn hình chữ nhật. Âm thanh của đàn vang, sắc, sáng chói, mang đặc tính của tiếng kim loại. Đây được coi là một diapason chuẩn cho các nhạc cụ khác lên dây. Đàn rôneat đek tham gia vào dàn nhạc ngũ âm, trong các lễ hội dân gian của người Khơ me.

- Kuôn (dàn chiêng) gồm 16 chiếc chiêng, được làm bằng đồng thau. Đường kính chiêng từ 15-25cm. Các chiêng được mắc trên một khung hình bán nguyệt làm bằng dây mây, trên khung người ta treo thứ tự các chiêng từ bé đến lớn. Người chơi kuôn dùng hai dùi gỗ, đầu dùi tròn bọc cao su gõ vào các chiêng. Kuôn được chơi ở tư thế quì ngồi, trong vòng khung hình bán nguyệt, dấu hai chân ra phía sau. Âm thanh của kuôn kêu to, vang, trang trọng. Vì chiêng có hiện tượng bị sai âm do thời gian, nên trước khi chơi người ta phải chỉnh âm cho chuẩn, bằng cách gắn thêm một loại chất rắn hỗn hợp gồm sáp ong chộn với chì và sắt. Loại chất này dễ mềm ở nhiệt độ cao. Khi muốn chỉnh âm cao thấp người ta đốt nóng loại vật liệu hỗn hợp này bằng đèn cầy và gắn vào mặt sau của chiêng. Kuôn tham gia hòa tấu trong dàn nhạc Ngũ âm, trong các ngày lễ cúng Phật và các hội lớn trong cộng đồng các phum, sóc.

 

DÂN TỘC CHĂM

 

1. Khái quát về đời sống và văn hóa của người Chăm ở An Giang

Người Chăm còn có các tên gọi khác nhau như Chàm, Chiêm Thành…  Tiếng nói thuộc dòng ngôn ngữ Malayo-Polynesian. Người Chăm sống tập trung ở các tỉnh như Ninh Thuận, Bình Thuận, An Giang. Có hai dòng người Chăm là Chăm theo đạo Bà la môn và Chăm theo đạo Hồi (Islam). ở An Giang, người Chăm theo đạo Hồi, có khoảng 15.000 người. Tại An Giang, người Chăm sống tập trung tại các huyện An Phú, Tân Châu. Dưới đây là những ấp có người Chăm tập trung  sinh sống:

- ấp Canh Đào (Cóc tà bong), xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú

- ấp La Ma, xã Vĩnh Trường

- ấp Đồng Ky, xã Quốc Thái

- ấp Khánh Bình (S’bâu) xã Khánh Bình, gần biên giới Campuchia

- ấp Bún Bình Thiên (Cóc coi), xã Nhân Hội

- ấp Pum Soài, xã Châu Phong

- ấp Châu Giang trên nói tiếng Miên, xã Phú Hiệp

- ấp Châu Giang dưới nói tiếng Chăm, xã Phú Hiệp

- ấp Hà Bao, xã Đa Phước

- ấp Vĩnh Hòa, xã Dĩnh Hanh, huyện Châu Thành

Người Chăm nơi đây chia hai nhóm ngôn ngữ: Chăm nói tiếng Miên và Chăm nói tiếng Chăm. Người Chăm nói tiếng Miên định cư ở Châu Phong đã trên 300 năm. Họ từ bên Campuchia di chuyển theo dòng sông Mê Kông đến đây sinh cơ lập nghiệp với nghề chài lưới. Khu vực Châu Phong trước kia là vùng rừng thiêng nước độc, nên họ đã từng sống ở nhà sàn với các chân cột rất cao để có thể sống chung với lũ.

Người Chăm đặt tên không theo họ, mà mỗi người có một tên, do vậy, nếu căn cứ vào tên mà phân biệt nam hay nữ là rất khó. Do có sự trùng lặp về tên mà người ta phân biệt giới tính bằng cách nhớ như I sa, I sơ là nam, Ma di dam, Sa di dá là nữ. Nay, để phân biệt được tên, đối với người phụ nữ thường thêm chữ thị ở đầu, hoặc đặt thêm từ Si ti đằng trước cho tên gọi thêm quý phái.

- Cộng đồng: tính cộng đồng của người Chăm theo đạo Hồi rất cao, nhất là trong việc hoạt động các phong trào xã hội, sự tương trợ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống là điều bắt buộc. Hằng năm, những người giàu có phải đến thánh địa Mesca. Tất cả mọi người đến đây đều mặc vải trắng không có đường may, thể hiện sự đơn giản.

- Nhà cửa: trước kia, họ chủ yếu ở nhà sàn, chân cột rất cao để tránh lũ, nhà của họ bốn mái, phía gian ngoài dành để tiếp khách, bên trong là buồng ngủ, sau nữa là bếp và sinh hoạt gia đình. Hiện nay, một số nhà làm thêm gian hiên bên ngoài để thêm chỗ sinh hoạt. Trong một gia đình, tồn tại nhiều thế hệ, do vậy mà nhà thường được làm nối dài. ấp La Ma, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú có hơn 3000 khẩu mà chỉ có hơn 200 hộ. Trước kia, bên dưới sàn thường làm nơi nhốt trâu bò, nhưng nay có chính sách mới của chính quyền về nếp sống văn minh, nên họ đã chuyển trâu bò ra xa nơi ăn ngủ. Ngày nay cũng ít nhà nuôi trâu, bò do khó kiếm cỏ.

- Nghề nghiệp: người Chăm chủ yếu sống bằng nghề nông, nghề chài lưới, làm gốm, nuôi tằm, dệt tơ. Nay các nghề này ít thấy, bây giờ, một số nơi, họ chuyển sang làm tràng tắm để xuất khẩu. Một số xã do không có đất để sản xuất nên nhiều người Chăm đã tỏa đi các nơi xa làm ăn. Những ngày lễ quan trọng họ mới về nhà và tới thánh đường cầu nguyện.

- Tôn giáo: người Chăm theo đạo Hồi- thờ đấng Allah và thực hiện các giáo luật truyền dạy từ đấng tiên tri Muhammad. Đây là một tôn giáo có nhiều lề luật khắt khe phải tuân theo như tháng chay Ramadan, kiêng ăn từ 4h30-đến 18h00, trong vòng một tháng. Cấm mọi người gần gũi và ăn thịt heo, chỉ được ăn thịt bò, thịt gà vịt, cấm uống rượu. Đạo Hồi đã chi phối rất nhiều đến văn hóa nghệ thuật, trong đó có âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn dân gian.

- Trang phục: họ tuân theo cách ăc mặc của đạo Hồi. Nam thì đội mũ, nữ thì quấn khăn, họ mặc xà rông. Trước kia họ thường dùng mầu trắng, nay thì được tự do hơn về lựa chọn mầu sắc. Nữ thì mặc áo dài, loại áo chui cổ (trà và) và dùng khăn che mặt. Nhất thiết người phụ nữ phải đội khăn trên đầu khi đi ra ngoài.

- Hôn nhân và gia đình: con dì, con già, cậu mợ được phép lấy nhau, anh em bạn dì, anh em cô cậu, chỉ cấm anh em ruột thịt. Hiện nay, áp dụng khoa học tiên tiến nên việc lấy nhau trong dòng tộc ít hơn, nhưng nếu trai gái yêu nhau thì giáo luật cũng không cấm. Người nữ rất ít khi lấy chồng là người Kinh, vì những điều trong giáo luật qui định khắt khe đối với những người nam. Theo luật đạo Hồi, người đàn ông có quyền lấy đến 4 vợ. Nhưng nay sống theo nếp sống mới do chính quyền vận động, nên hiện tượng đàn ông đa thê đã giảm hẳn.

Quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy vẫn còn phổ biến trong cộng đồng người Chăm An Giang cho tới nay. Đám cưới - đám hỏi thường được tổ chức rất sớm, nhiều khi còn ở tuổi vị thành niên. Thường thì đại diện phía nhà trai đến dạm hỏi và cô dâu được định giá trị theo giá của nhà gái (gọi là tiền đồng tiền trợ). Đám cưới thường tổ chức vào các ngày đầu tháng, kiêng ngày thứ ba trong tuần vì họ coi đó là những ngày không tốt. Khi tổ chức cưới buổi sáng nhà trai đưa rể qua nhà gái. Trước đấy họ phải qua thánh đường để thực hiện các nghi thức tôn giáo (có thể làm trước vài ba ngày). Tại thánh đường, bố cô dâu và con rể giao ước lần cuối về việc định giá trị con gái đối với chú rể. Cưới xong chú rể sẽ sống tại nhà gái. Trường hợp là con một, thuộc gia đình giàu có thì chú rể có thể về nhà mình để giữ tài sản.

- Tang ma: khi có người chết, họ tắm rửa sạch, quấn ba lớp vải trắng, và không dùng quan tài. Khi có người chết, bà con chòm xóm đến chia buồn và mang lên thánh đường làm lễ sau đó đem chôn. Thường gói gọn trong ngày. Họ không có hình thức cải táng.

2. Âm nhạc truyền thống của người Chăm An Giang

Qua khảo sát một số địa điểm có người Chăm sinh sống thì chỉ có ấp La Ma, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú và ấp Châu Giang, xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân là còn có dàn Lập nà- dàn nhạc truyền thống khá tiêu biểu của người Chăm An Giang gồm 12 chiếc trống paranưng do 12 người chơi. Trống có hai loại, trống to giăng p’nà (11 chiếc), trống nhỏ thùm mạ (1 chiếc). Paranưng là loại trống một mặt. Mặt trống làm bằng mặt da dê và được bưng bằng dây mây. Tang trống làm bằng gỗ cẩm lai hoặc các loại gỗ cứng. Khi chơi, người ta dựng trống trên đùi, dùng hai tay vỗ. Tùy vào từng vị trí vỗ trên mặt trống mà có được âm thanh vang, ấm, trầm bổng khác nhau. Paranưng là loại nhạc cụ tiêu biểu, duy nhất dùng để hòa tấu và diễn tấu cùng với hát trong đám cưới.

Trong hoạt động văn hóa của người Chăm An Giang thì âm nhạc và nghệ thuật Chăm luôn gắn liền với các nghi thức tôn giáo. Hiện nay, các sinh hoạt văn hóa truyền thống Chăm đã bị pha trộn với nhiều loại hình khác nhằm phục vụ phong trào hội hè của địa phương nên một số bà con chưa thực sự hào hứng. Họ cho rằng: âm nhạc và múa Chăm đưa lên sân khấu là không đúng với luật đạo. Họ quan niệm bảo vệ tôn giáo là bảo vệ tộc người.

 

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN

 

Qua thực hiện khảo sát, sưu tầm âm nhạc dân gian Khơ me tại huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, chúng tôi thấy rằng quá trình người Khơ me tiếp nhận văn hóa dân tộc Kinh đang diễn ra khá mạnh, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, nâng cao đời sống vật chất. Điều này cũng đã và đang kéo theo sự mai một của văn hóa truyền thống dân tộc Khơ me, trong đó có âm nhạc nghệ thuật dân gian.

Nghệ nhân Mát Ta Zế (58 tuổi) người Chăm ở ấp La Ma, xã Vĩnh Trường cho biết: “Trước kia khoảng 20 năm, sinh hoạt âm nhạc truyền thống tại đây rất phát triển. Nếu gia đình tổ chức đám cưới thì phải mời bằng được nhóm nhạc paranưng. Sau đó khoảng 10 năm thì nhóm nhạc phải đến đám cưới để xin được biểu diễn, rồi sau này âm nhạc truyền thống cứ bị mai một đi. Hiện nay, thì nhạc paranưng rất ít khi được chơi trong các đám cưới mà được thay thế bằng nhạc mới như nhạc Ma-lai, nhạc Inđô. Một số nơi có dàn trống paranưng nhưng không đủ bộ. Những người đã từng biết chơi, nay không còn khả năng biểu diễn vì đã bỏ lâu rồi. Lớp trẻ thì không còn yêu thích loại nhạc này.”

Thực trạng âm nhạc cổ truyền của hai dân tộc Khơ me và Chăm ở tỉnh An Giang đang trong tình trạng mai một. Công tác tư liệu hóa âm nhạc cổ truyền để bảo tồn trong các cơ quan lưu trữ là rất cần thiết. Tuy nhiên việc tuyên truyền, vận động, xây dựng những lớp truyền dạy âm nhạc dân gian, và nghệ thuật biểu diễn cho thế hệ trẻ là những việc cần làm ngay. Có như vậy, chắc chắn âm nhạc Khơ me và Chăm tỉnh An Giang sẽ được lưu giữ đúng với truyền thống và phát huy một cách tích cực trong xu hướng hội nhập hiện nay.

 

 



[1]. Ông Mahan là người am hiểu các lễ nghi trong đám cưới, biết múa, múa đẹp và múa đúng theo qui định tục cưới.

[2]. Dàn nhạc này cũng dùng trong thể loại Dì kê, Xa ra vanh.

[3]. Người Khơ me ở xã An Hảo, huyện Tịnh Biên còn có bài Sô ri da Rô nghếch thngăy. Đây là bài nhạc đệm cho điệu múa Ka bách được chơi trong đám làm phước, lúc hoàng hôn xuống.

 

Thêm một trao đổi