06-04-2014, 12:28

ĐIỀN DÃ, SƯU TẦM ÂM NHẠC VÀ MÚA DÂN GIAN DÂN TC TÀY,
N
ÙNG, DAO, LÔ LÔ, SÁN CH, HMÔNG TNH CAO BNG

 (thuộc dự án “Hỗ trợ văn hóa Việt Nam vì Sự phát triển bền vững
2005-2009”do quỹ Sida Thụy Điển tài trợ)

  NGUYN HIN ĐC

                                                                                 

 


          Những người thực hiện:

- TS Lê Văn Toàn - Viện trưởng Viện Âm nhạc, chỉ đạo thực hiện

      Nhóm nghiên cứu:

- Nguyễn Hiền Đức - Cán bộ nghiên cứu

- Nguyễn Đình Lâm - Cán bộ nghiên cứu

      Nhóm thu thanh, ghi hình:

- Nguyễn Kha - Đạo diễn         

- Nguyễn Duy Tuấn - Quay phim

- Nguyễn Ngọc Hân - Quay phim

- Nguyễn Anh Dũng - Âm thanh

- Nguyễn Trần Khánh - Kỹ thuật trường quay

- Nguyễn Danh Long - Kỹ thuật trường quay

- Nguyễn Ngọc Long - Chụp ảnh

      Cán bộ địa phương:

- Trần Viết Sòi      - Cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
                                                           tỉnh Cao Bằng

- Nông Thị Thủy - Cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
                                                           tỉnh Cao Bằng

      

Cao Bằng là một tỉnh miền núi, thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam: phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với 311km đường biên giới; phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang; phía Nam giáp tỉnh Bắc Cạn và Lạng Sơn. Tổng diện tích tự nhiên là 6.697 km2, trong đó 90% là rừng núi. Cao Bằng là nơi sinh sống của hơn 490.335 người, thuộc 28 dân tộc, trong đó dân tộc chiếm số đông là Kinh, Tày, Nùng, Lô lô, Dao, Sán chay.

Cao Bằng có nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, với các địa danh nổi tiếng như thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, hồ Thăng Hen và đỉnh núi Phja Oắc cao 1931m so với mặt nước biển. Cao Bằng cũng là nơi có nhiều sản vật phong phú như hạt dẻ Trùng Khánh, chè đắng, trúc sào Nguyên Bình, lê vàng, hồi Thạch An… Cao Bằng cũng được coi là điểm hội tụ của nhiều loại hình văn hóa âm nhạc dân gian các dân tộc.

 

 

I. DÂN TC TÀY

 

1. Khái quát về văn hóa và đời sống   

Người Tày còn có các tên gọi khác là Thổ, Ngạn, Phén, Pa dí, thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Tại Cao Bằng, người Tày có 208.822 người, chiếm 42,54% dân số toàn tỉnh. Họ cư trú ở ven các thung lũng, triền núi thấp, thuận lợi cho sản xuất các loại cây nông nghiệp như: lúa, ngô, khoai.

Người Tày sống tập trung thành từng bản, mỗi bản thường từ 15-20 nóc nhà, chia thành nhiều xóm nhỏ. Tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruồng, khúc sông. Nhà ở có nhà sàn, nhà đất. Cách bố trí là nam ở phòng ngoài, nữ ở phòng trong. Người Tày bao giờ cũng dành vị trí trung tâm, tôn nghiêm nhất trong nhà để đặt bàn thờ tổ tiên.

Trong sinh hoạt thường ngày, người Tày có những kiêng kỵ rất nghiêm ngặt như: khách lạ vào nhà không được ngồi, nằm lên chiếc giường trước bàn thờ; không được đặt chân lên khúc củi đang cháy trên bếp lửa; không được đặt chân lên thành bếp; người đi đám tang ma về phải tắm rửa sạch mới được nhìn vào gia súc, gia cầm; người mới sinh không được đến chỗ thờ cúng tổ tiên.

Trong mối quan hệ gia đình, nam giới giữ vai trò quan trọng, thường là trọng con trai hơn con gái. Trong quan hệ xã hội, người Tày thể hiện tinh thần mến khách, khi đã kết nghĩa thì coi nhau như anh em ruột thịt, như bà con thân thích.

Người Tày thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm, áo phụ nữ dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách ở bên phải, cài 5 khuy.

2. Âm nhạc dân gian

2.1. Dân ca

ứ noọng nòn là những câu hát ru trẻ của người Tày. Giai điệu của ứ noọng nòn tiến hành theo các quãng liền bậc, nhịp điệu chậm rãi. Cùng với đó là những đoạn ngân nga đi kèm với các luyến láy trong mỗi câu hát tạo cho điệu ứ noọng nòn thêm du dương, nhẹ nhàng, thiết tha. Lời ca ứ noọng nòn mộc mạc, gần gũi với cuộc sống sinh hoạt thường ngày. Đối với người Tày, ứ noọng nòn ngoài chức năng để ru trẻ còn là cách giáo dục tâm hồn trẻ cảm thụ âm nhạc, tiếp cận ban đầu với thế giới quan mà người ru dành cho trẻ. Người Tày hát ru bên nôi hay khi địu con đi nương. 

Lượn Cọi là điệu hát phổ biến ở khu vực miền Tây tỉnh Cao Bằng. Nội dung Lượn cọi ca ngợi tình yêu nam nữ, ca ngợi cảnh vật thiên nhiên, cuộc sống lao động sản xuất, quan niệm về thế giới quan. Lượn cọi được trình bày bằng một giọng điệu tự nhiên, lúc thì vút cao, khi thì hạ nhẹ, vừa trong sáng, lại gần gũi với đời sống sinh hoạt gia đình. Người ta thường tổ chức hát lượn cọi cho vui cửa, vui nhà, để gia đình làng bản thưởng thức và có thể hát bất kể ngày đêm.

 Bài Cọi chôm tồng:

Thân noọng là khách là tàng quang

Cú tên đẩy kháng mà thẩng tồng

Tốc tồng khỏi chôm tồng cân luổng

Tốc nương khói chôm mương cân quáng

Tồng luồng thật quang đáng mênh mông

Chược lặng khói mà thẩng sỏ mừng.

                  Tạm dịch: Cọi xem đông

Thân em là khách lạ đường xa

Cất bước chân về đến xem đồng

Bước đông tôi xem đồng người lớn

Rời xã em xem xã người rộng

Xã người thật quang đãng mênh mông

Biết kể tôi xin kể người nghe.

Lượn Bươn là một lối hát đối đáp về ý nghĩa các tháng, vẻ đẹp của các mùa trong năm mà người Tày thường gọi là hát giao duyên Tứ quý hay Lượn Tứ quý. Âm nhạc của loại hát Lượn Bươn nhẹ nhàng, trầm lắng, thiên về tính chất triết lý. Trong mỗi câu hát, các luyến láy, ngân nga tự nhiên tạo cho lối hát này không bị lệ thuộc vào khuôn khổ của nhịp điệu. Lượn Bươn gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của nhà nông, qua đó mà người Tày truyền cho nhau những kinh nghiệm về lịch thời vụ.

Hát Phong Slưlà một lối hát giao duyên độc đáo của người Tày. Lời ca là những bức thư được viết bằng chữ Nôm-Tày trên vải sa đỏ. Thư do một người trung gian viết và hát cho cả hai bên trai gái cùng nghe.

Hát Quan làng là một lối hát trong đám cưới. Người hát Quan làng là người đại diện cho nhà trai, điều khiển các nghi thức cưới từ khi đón dâu đến khi đưa dâu về và kết thúc đám cưới.

2.2. Tín ngưỡng Then

Then là hình thức tín ngưỡng dân gian của người Tày, tính chất gần với Shaman giáo. Trong một buổi hành lễ, hát Then là một cuộc diễn xướng của bà Then, tường thuật lại cuộc hành trình của đoàn quân Then qua ba Mường là: Mường Đất, Mường Nước và Mường Trời. Hát Then gắn với chùm xóc nhạc và cây tính tẩu. Hiện nay, nhiều điệu hát Then đã dần trở nên quen thuộc trong các dịp lễ hội và sinh hoạt cộng đồng ở địa phương và trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Dưới đây là một số trích đoạn các bài ca trong hành lễ tín ngưỡng Then:

Bài 1: Kính tổ tiên (Chào bà)

Chào bà đi tế ngựa không buồn

Chào bà đi Đàm Luông Bó Khấu

Anh em ở cửa dưới còn đủ

Ba năm làm rượu cho ông bà

Ngày trước bà sáng lấy lá cây xuống tắm

Bà trên lấy lá trầu xuống tắm

Thì mới thành hào quang đi ngựa

Mùng một nhà người ăn thịt cùng cá

Nhà ăn vừng cùng lạc

Ăn chay người chủ đã quen

Kiêng thịt mới thành Bụt

Bụng Bà sạch nở hoa

Em lau bụng bên trong

Bụng Bà nở như hoa

Mở hòm lấy áo hoa

áo bà ba trăm tiền

Mỗi áo nở như hoa

Mở thứ ba thành tiên

Mở thứ tư rồng leo Bà

Mở thứ năm rồng vây người Bà.

Bài 2: Đi đường (Pây Tàng)

Đi ra khỏi cửa nhỏ

Lọt qua khỏi cửa to

Đi ra cửa Đại môn theo đường

Các bà không dừng chân

Đi ra chốn bờ dậu hoa nở

Lọt ra chốn bờ ao hóng mát

Lọt ra  mỏ nước sẽ uống

Lọt ra mỏ nước Bà sẽ tắm

Lọt ra mỏ nước gánh nấu cơm

Lọt ra chốn bãi cát Hà Bá

Dạ Hà Bá hương trai

Đi ra hòn đá ta giặt áo

Lọt lên em tắm nước Bà tiên

Lọt lên em gội đầu

Em tắm nước quên chồng

Em gội đầu quên con

Đi lên đồng vịt, ngỗng kêu chếp

Lọt lên đồng vang, bạc sáng đồng

Đi lên đồng làm đồng từ phương

Đi lên đồng ma đau

Lọt lên xứ ma chơi

Dạ ma chơi Hương trai

Lạy ma đau hương Táy

Đi lên theo đường đôi

Lọt lên chốn ngã Ba đường rộng

Bây giờ thoát khỏi ải trần gian

Đi lên chốn Ngà Nam hóng mát

Lọt lên đến mỏ nước sẽ uống

Đi đến mỏ đường sinh sẽ tắm

Lọt đến chốn bãi cát Hà bá

Dạ Hà Bá Hương trai

Lạy thủy tinh, Thủy quan hương táy

Đi lên theo đường đôi

Đi đến eo biển cả tắm voi

Đi lên eo bà voi tắm tượng

Bách quá nợ hai bên bỏ qua

Cản trở có cành hoa tam đại

Chọc chân ngỗng, chân hạc sẽ lên

Đi lên đồi tầng trên

Lọt lên đồi Hội đồng Hương tống.

Bài 3: Vượt núi (Khảm pịa)

Đi lên vượt đèo hai thương

Lọt lên chốn tranh vàng nàng ve

Nàng ve gọi bồi hồi buồn bã

áp binh mã Bà quay lên gọi

Gọi ra chín mười bóng nữ thanh

Gọi ra mười nam thanh nữ tú

Buồn mới lên ở chốn sơn lâm

Nàng ve gọi tiếng sầu ra rả

Gọi ông cóc thiên hà cày cấy

Nông gia vực cuốc ra mùa hạ

Chim queng quý dong dả mọi nơi

Đêm ngày nó thiếu đôi nó gọi

Gọi ra chín mười bóng hằng nga

Đêm ngày gọi, gọi tìm chung bạn

Vượt đèo gọi trong tim than thở

Buồn bực con ngựa loang vụt chạy

Đi lên chốn sơn hà người vắng

Lọt lên chốn sơn lâm vắng bản                                   

Lọt lên chốn tranh vàng nàng ve

Nàng ve gọi bồi hồi tiếng thương

Gọi thành người cố nhân đời trước

Gọi mỗi lời mỏi mềm tay chân

Ve thiếu đôi, thiếu lứa nó gọi.

Bài 4: Vượt núi (Khảm pịa)

Lên đường vắng mỏi chân

Lên đường sơn hạ vắng

Không nhà, không xóm bản

Tiếng ve kêu gọi buồn

Gọi mọi người làm ruộng

Nông dân vác quốc ra mùa hạ

Gọi bố cóc thiên hạ cầy cấy

Chim queng quí bay khắp mọi nơi

Thiếu đôi, thiếu lứa chim mời gọi

Các Bà lên rừng Hoàng, Đại an

Lam Bụt phải hái hoa

Thứ nhất hái hoa cúc

Thứ hai hái hoa lan

Thứ ba hái hoa ngựa

Thứ tư hái hoa ban

Thứ năm hái hoa hồng, hoa quế

Thứ sáu hái hoa chanh, hoa bưởi

Thứ bảy hái hoa bông nở vàng

Trai, gái đẹp vì vải

Đói cơm còn bước được

Đói vải không biết bước

Hoa em đẹp hơn người.

Bài 5: Đi sông nước (Pây nặm)

Xuống thuyền đi ra biển

Các dòng sông ra biển

Các sức nước trở thành phong ba

Quân quốc đầy hỗ trợ

Không có gì cản trở

Qua biển khơi thuận lợi

Đi thuyền không lật ngửa.

Bài 6: Đi sông nước - Qua biển (Quá hải)

Đi vào cửa nước vàng

Lọt ra đến cửa biển

Nước biển cuộn phong ba

Quân quốc đông vượt qua

Không có bà thì chết

Bà không lấy cây xung làm cầu

Bà không lấy cây vạc làm thuyền

Bà lên xứ trên học phép

Học được phép Phật Bà

Học được phép lộc nhân qua biển

Bà biến phép đi trên biển động

Chèo thuyền chèo cho vững

Không cho thuyền quay ngược đầu đuôi

Thuyền qua biển Hua Giang nước cuộn

Không biết nơi vực sâu

Theo biển Hua Giang đại hải

Thuồng luồng to bằng cánh cửa

Rắn biến phép vượt qua

Biến phép lộc nhân vượt biển

Chèo thuyền lên nhiều thác

Vượt qua nhiều vực sâu.

Trong Then Tày có nhiều điệu múa như múa Sluông, múa Chầu. Một trong những điệu múa mang tính nghi thức đó là múa Chầu, được diễn ra khi Then và đoàn quân binh đem lễ vật vào chầu vua, chầu quan, chầu tướng, chầu thánh. Điệu múa gồm 6 người nữ đứng dàn hàng ngang, chia thành từng đôi, mỗi người cầm một chùm xóc nhạc và một quạt giấy. Động tác của tay kết hợp nhịp nhàng với thân và chân, mình nghiêng một lần bên phải, một lần bên trái, cứ thế từng đôi, từng đôi múa thể hiện một cách uyển chuyển theo nhịp nhạc. Đội múa bắt đầu từ tư thế đứng, sau chuyển sang tư thế ngồi và tư thế quỳ. Những tư thế này được lặp đi lặp lại một cách đều đặn cho đến hết bài nhạc của tính tẩu.

Đệm cho múa Chầu là cây tính tẩu, cây đàn khá tiêu biểu của người Tày. Cách đàn trong múa Chầu là vừa tạo giai điệu vừa nhấn mạnh vào đầu phách để tạo nhịp điệu. Có thể nói, nhạc điệu của tính tẩu, lối dứt nhịp của xóc nhạc cùng các động tác của múa Chầu đã tạo nên một không gian rất riêng. Nó vừa thể hiện sự trang nghiêm, kính cẩn, vừa huyền bí, nhưng bao trùm trong đó là những ước mơ, khát khao về một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc nơi cuộc sống hiện tại.

 

II. DÂN TỘC NÙNG

 

1. Khái quát về văn hóa và đời sống

Người Nùng có tên tự gọi là Nồng. Dân tộc Nùng gồm các nhóm: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn slình, Nùng Quý rịn, Nùng Dín. Tiếng nói của người Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Văn tự của người Nùng là chữ Nôm Nùng xuất hiện từ thế kỷ XVII.

Tại Cao Bằng, người Nùng có 161.134 người, chiếm 32,86% dân số toàn tỉnh. Người Nùng sống dựa vào nông nghiệp. Cây lúa và ngô là cây lương thực chính yếu. Họ làm ruộng nước ở các vùng khe trũng và trồng lúa cạn trên các sườn đồi. Những năm gần đây, người Nùng còn trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm như quýt, hồng. Bên cạnh đó, các ngành nghề thủ công như dệt, nghề mộc, đan lát, nghề rèn và nghề gốm cũng đã phát triển.                

Người Nùng sống thành bản trên các sườn đồi. Thông thường trước bản là ruộng nước, sau bản là nương và vườn cây ăn quả. Nhà sàn làm bằng gỗ tốt, lợp ngói máng hoặc lợp tranh. Đồng bào Nùng mặc quần áo chàm.                 

Món ăn độc đáo và được coi là sang trọng của đồng bào là Khau nhục, được chế biến từ thịt lợn. Tục mời nhau uống rượu chéo chén có lịch sử từ lâu đời, nay đã thành tập quán của đồng bào.

2. Âm nhạc dân gian

2.1. Dân ca

Hát ru của người Nùng Giang thường được hát khi địu con đi nương, hát trong nhà hay hát bên nôi. Hát ru có kết cấu giai điệu đơn giản, dễ nhớ, gần gũi với tâm sinh lý trẻ. Lời ru mộc mạc, giản dị, chân thành, giàu hình ảnh.

Bài Vến lộc noồn (ru con ngủ) có lời ca:

Noồn nín nín noồn

Noồn thả mế mế

Noồn thả a nộng tẩu

Tẩu kin lau tăng kênh

Pay kioa mềnh kha lồ

Kha lồ bố mầy pioa

Kh nà xỏ mầy lủm

Au tu lủm pác đêng

Au tu mềnh pác cắm

Au tu lẳm vổ lài

Au tu vài cốc slể

Au tu bể cốc côm

Tu thôm tu mà lảng

Nín nín, nín noồn

Noồn đắc a noồn đỉ

                   Tạm dịch:

Nín đi con, nín ngủ cho ngoan

Ngủ ngoan chờ mẹ

Ngủ ngoan chờ cô

Cô đi đám cưới đỉnh đèo

Đi tìm ruối trên đường

Trên đường không có cá

Ra đồng có châu chấu miệng đỏ

Lấy châu chấu miệng đỏ

Lấy con cắt cổ hoa

Lấy con nghé sừng vòng

Đi tìm con dê về chuồng hết

Con nào cùng tìm dấu vết về nhà

Nín đi con, nín ngủ cho ngoan

Ngủ cho mê say.

 

Hà lều hay còn gọi là Lượn phủ là một hình hức hát hai bè của người Nùng Lòi, phổ biến ở vùng Đông Bắc tỉnh Cao Bằng. Cách hát là cả hai người cùng đồng xướng, nhưng cách nhau một quãng 3, quãng 4. Là hình thức ứng tác tại chỗ, sao cho hợp cảnh hợp tình, Hà lều thường bắt đầu câu hát bằng những tiếng đưa giọng kéo dài ì i í. Không gian diễn ra thường là ở những nơi đô hội, đông người. Với các chủ đề ca ngợi tình yêu đôi lứa, ca ngợi quê hương... Hà lều đã từng là nhịp cầu cho bao nhiêu đôi trai gái nên duyên vợ chồng. Dưới đây là một ví dụ về điệu Hà lều theo lối Lượn kết:

          Nam hát:

Rừ vài mà tả nhả kin ne

Rừ có tẻ phài nhè qua bốc

Vài kin ne te rộp năm mường

Pưa mỉn lại riết rương chăn chí

Lao pọng te định chi tu rườn

Mặt mèng rừ tả thương quầy nặm

Lao ỏi kin lao khăm bọ thương

Kết đuối noọng tang mường bo tả.

          Nữ hát:

Kết căn pìn vàm cháng le đậy

Roóng rà du xẩy quây mà ngộ

Tống ngọc hoa phạm tử sĩ nho

Phạm tử pây kin xo bạn á

Thọ nhằng đảy kết khoá vặn căn

Ruyền roóng rà hắc răng phỉ ơi

Kết căn da bấu rơi kh thàng

Hử phền nghịa tào khang chẳng da.

Tạm dịch:

             Nam hát:

Có trâu nào chê cỏ ăn dong

Bè trên cạn anh chống sao đặng

Trâu ăn dong lũ đụng cuốn trôi

Một thân trâu chở vơi biển rộng

Lúc đó còn biết ngóng chờ ai

Chàng định kết trúc mai trọn kiếp

Chỉ lo nàng thắm thiết duyên nồng

Ong nào lại bỏ đường kiếm nước

Sợ mía cong cây héo chẳng đường

Kết bạn với khác mường chẳng bỏ.

             Nữ hát:

Kết với bạn đâu có phân vân

Thiếp thực lòng nhất tâm vậy đó

Chỉ lo bạn đã có chốn rồi

Lòng ước mà sự đời không vậy

Chẳng nên thị xem thấy thế gian

Như nam kim thị đan kết ngải

Đinh rằng đinh đường cái cho thông

Để đi về được trông thấy mặt

Chỉ lo chàng chẳng biết mới thôi

Xin gửi tới đôi lời không bỏ.

 

Sli Giang của người Nùng Giang, phổ biến ở các huyện thuộc miền Đông tỉnh Cao Bằng. Sli Giang là một lối hát trữ tình, giai điệu giàu sức biểu cảm. Nội dung thường đề cập đến những ước mơ của cộng đồng, sự nhiệt tâm của tuổi trẻ trong cuộc sống chinh phục thiên nhiên. Sli Giang thường diễn ra trong cuộc sống thường ngày. Ví dụ lời bài Sli Giang kể lại cuộc hát giao duyên ngày hội[1]:

Hôm nay buồn lắm bạn ơi

Kể tình xưa cũ đầy vơi mặn mà

Mọi năm đến Tết tháng ba

Gái trai xum họp thật là đông vui

Mỗi người ở mỗi một nơi

Bốn phương tấp nập mọi người về đây

Em ơi đâu đến nơi này

Anh đây xin hỏi bước ngay đến gần

Anh ơi mong mãi mùa xuân

Hôm nay mới đến lại gần bên nhau

Bây giờ anh nói một câu

Để em chấp nhận gật đầu hay không

Anh ơi em nói thật lòng

Hai ta nối được tâm tình với nhau

Anh em duyên kết ngày sau

Trăm năm không được rời nhau một ngày

Giờ đây trời sắp tối ngay

Về nhà ta lại hẹn ngày sau thôi

Chia tay lòng thấy bồi hồi

Đến nhà nhớ lại đứng ngồi không yên.

Hoặc bài Sli Giang Kiao xềnh háng tán (Kết duyên ngày chợ hội)

Kiao xân ốc mà thăng pây mói

Mầy hỏi lầm lói tắc pày a

Slến rói lẻ ngầy thăng vằn cấy

Kiao xân mội tẩy rốc rổng va

Vằn đẩu tổn cốn ràu đảy dản

Thăng vằn háng tán xù kioăn mà

Khúp pây đun slam vằn nhầy cán

Báo slao thôm tẩu đoong là là

Dồ khảu tha nả khu nhỏi nhỏi

Noộng rà dấu tỏi lậu ni mà

Cần lẻ dấu toong cấn dấu slí

Kiao xềnh phù ní quay nặm a

Kha lổ nhằng tau pằn kỉ tố

Kiao xềnh mấy hổ náo nộng rà

Vảng dạ chăn slăm thêm chăn slảy

Sloông ràu tẩu đảy kít đốc va

Pẩy noộng sloông ràu đảy kít tối

Mấy hỏi slíc tồi tắc pày a

Cảng lai cỏ pằn pây vàm kháo

Xù kioăn ràu tào rùn chả rà

Pẩy cấy cảng lai khảu pài dẳm

Tha vằn tóc tắm quắt mầy mà

Pẩy noộng piọae kioăn hắt rầy dấn

Khảu xoồng căm thâu mạt nặm tha.

         Tạm dịch:

Lập xuân đã đến vào năm mới

Xuân về phơi phới nhớ năm qua

Đã lâu lắm rồi mong ngày tới

Xuân sang nở mới các loại hoa

Hội năm trước đã hẹn rồi đấy

Cùng nhau hẹn tới chợ hái hoa

Tròn một năm tháng ba hai chín

Gái trai về đến vui nhận ra

Mặt em tươi cười như hoa nở

Anh hỏi em ở gần hay xa

Người ở đầu trời người cuối đất

Kết duyên bất khuất xa thật xa

Đoạn đường còn nối bao điệp khúc

Kết duyên hạnh phúc vượt khó qua

Nếu anh thật lòng trí tâm quyết

Đôi ta duyên kết thật đậm đà

Tình ta duyên kết thêm say mê

Không cho chia lìa giữa đôi ta

Nói nhiều cũng cùng một ý nghĩ

Cùng nhau nhất trí ta về nhà

Thì giờ có ích duyên có hai

Chói mặt trời lại sáng tình ta

Lời nói chia tay hẹn khi khác

Nhớ nhau thầm khóc trong lòng ta.

2.2. Sân khấu dân gian Dá Hai

Dá Hai là một hình thức sân khấu ca kịch dân gian của người Nùng, có nguồn gốc từ hình thức rối truyện Mộc Thầu Hý. Nó tồn tại và phát triển ở các vùng giáp biên giới Trung Quốc như huyện Trùng Khánh, Trà Lĩnh, Hà Quảng của tỉnh Cao Bằng. Tên gọi Dá Hai thực chất bắt nguồn từ ca từ ở một lối hát cũng như sự xuyên suốt về nội dung và âm nhạc mà nó thể hiện trên sân khấu. Do rất được ưa thích nên từ Dá Hai đã trở thành tên gọi cho hình thức sân khấu dân gian này. Hiện nay, sân khấu kịch dân gian Dá Hai không còn phổ biến, nhưng Dá Hai vẫn thường được vang lên trong các dịp sinh hoạt văn hóa tại cộng đồng bản địa. Bài Bản noộng đăm chay phằn mói(Quê em trồng nhiều giống cây mới) viết theo lối hát Dá Hai là một ví dụ:

Cố mà côi tẩy noộng tắc pày

Xằm khau phioa đăm chay phằn mói

Tỉnh tồn khốp quay khioỏi nặm mừng

Quá lồ thăn toỏng phung lai cú

Khúp pây ngám thăm mổ đăm vằn

Táy pằn chí thu mằn tôi cóc

Bút thấy nhằng cô phiức lủng dàu

Mội cần thảu slăm tàu rẻ rẻ

Táy ngám thăng vằn kế slau mà

Đốc thú xẳng là là phiing kháu

Ròi lìn ròi boi mói bản ngăm

Slan xẳng thả thang vằn tan tắp

Nhặp tảy tô tẻ lặp bấu nỏ

Noộng cỏ táng slửng dau slăm slảy

Cố đấu váng mà đảy côi thăng

Mà pang noộng tắc vằn tắc pẩu

Noộng dáng dôm phằn pổ hỏi chay

Pây lăng cỏ pằn đay pẩy cấy.

Tạm dịch nghĩa:

Anh đến thăm em một lần

Thăm quê em trồng nhiều giống mới

Tiếng đồn khắp đi tới mọi nơi

Qua đường thấy có nhiều cây tốt

Trong quanh năm sớm tối ngày mùa

Ngô lên, luống khoai có dưới gốc

Còn có đám khoai sọ thẳng hàng

Mọi người được trong lòng đầm ấm

Mùa ngô già đã đến ngày thu

Đỗ tương đã đến mùa hoa nở

Đám kiền đám sáng cả đồi nương

Đem bồ chờ đỗ tương thu hái

Đang lo khâu túi vải kịp không

Em đang nghĩ trong lòng bận rộn

Nếu anh được rảnh rỗi đến đây

Về giúp em mấy ngày gặt hái

Giống mới em để lại anh trông

Năm sau sẽ được giành thắng lớn.

 

III. DÂN TC LÔ LÔ

 

1. Khái quát về văn hóa và đời sống

Người Lô lô còn có tên gọi khác là: Mùn Di, Di, Màn Di, La ha, Qua la, Ô man, Lu lộc màn. Họ có các nhóm địa phương: Lô lô Hoa, Lô lô Đen. Dân tộc Lô lô thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến. Tại Cao Bằng, người Lô lô có 1.936 người, chiếm 0,39% dân số của tỉnh, cư trú tại huyện Bảo Lạc.

Người Lô lô chủ yếu sống bằng nghề nông. Lúa nương và ngô là cây lương thực chính yếu.

Người Lô lô có nhiều dòng họ. Người đứng đầu mỗi dòng họ phụ trách việc cúng bái và duy trì tục lệ của làng, đồng thời là người được giữ trống đồng. Trong sinh hoạt truyền thống, trống đồng là một vật biểu trưng của người Lô lô. Họ cất giữ trống bằng cách chôn xuống đất. Trống chỉ được đào lên dùng trong các nghi lễ, trong tang ma.

 Người Lô lô sống thành từng làng ở lưng chừng núi, gần các nguồn nước. Nhà sàn là nhà truyền thống, bên cạnh các loại nhà chệt, nhà đất.

Trang phục truyền thống của nam giới trong ngày thường là mặc quần áo màu chàm, áo xẻ nách dài tới gối. Trong đám tang, họ mặc áo dài màu sắc sặc sỡ, trang trí nhiều hoa văn. Trang phục của nữ giới rất đặc trưng, họ dùng khăn đội đầu có nhiều lớp, được trang trí hoa văn theo lối ghép vải. Các mô-típ hoa văn là những dải màu sắc sặc sỡ. Người Lô lô Cao Bằng phổ biến mặc loại áo ngắn, xẻ ngực, cổ cao, tròn, cài cúc, quần ống chân què, chân đi giày vải. Bên ngoài còn có tấm choàng váy, có trang trí nhiều hoa văn hình tam giác, hình vuông, hình thảo quả. Nữ giới Lô lô ưa dùng các đồ trang sức bằng bạc, nhôm.

Hôn nhân của người Lô lô là một vợ một chồng, sống chung thủy. Con dâu sống bên nhà chồng. Tuy trai gái được tự do tìm hiểu nhưng khi đi đến hôn nhân, vai trò của ông cậu trong việc cưới vẫn rất quan trọng, từ việc thách cưới đến giao nhận lễ và đem của hồi môn về nhà chồng.

Người Lô lô thờ tổ tiên. Ngày rằm tháng 7 và Tết năm mới là ngày cúng tổ tiên. Lịch của người Lô lô chia 1 năm thành 11 tháng.

 

2.  Âm nhạc dân gian

2.1. Dân ca

Dân ca của người Lô lô gũi với đời sống sinh hoạt thường ngày của họ. Họ hát mỗi khi gặp nhau, trước khi ngồi mâm uống rượu (hát mời cơm), trên đường đi làm nương. Âm nhạc trong các bài hát của người Lô lô dàn trải, nhịp điệu tự do, giai điệu ít biến đổi.

2.2. Nhạc cụ

Bộ trống đồng của người Lô lô gồm 2 chiếc, một trống cái, một trống đực. Trống cái là trống lớn, trống đực là trống nhỏ. Khi chơi, 2 trống treo cao, quay mặt vào nhau. Người ta dùng dùi gỗ gõ vào mặt trống và que tre đánh vào tang trống. Bằng cách phối hợp nhịp nhàng hai tay, người chơi trống tạo ra những âm sắc và tiết tấu khác nhau theo nhịp điệu đặc trưng của người Lô lô. Người Lô lô quan niệm, bố là trời, mẹ là đất vì vậy khi không sử dụng, trống phải nằm trong lòng mẹ (lòng đất) do vậy họ phải chôn trống.

2.3. Múa

Lễ Ma khô của người Lô lô là tục cúng tế cho người chết. Khi gia đình có người qua đời nhưng các nghi lễ tang chưa được tổ chức trọn vẹn thì sau khoảng một năm họ tiến hành làm lễ Ma khô. Múa trong lễ Ma khô là múa tập thể, theo nhịp trống đồng. Các động tác múa đi từ dễ đến khó. Điệu múa rất giàu hình tượng, nó phản ánh đời sống lao động và quan niệm về đời sống tâm linh trong thực hành tín ngưỡng của họ. Múa trong lễ Ma khô nhất thiết phải có bộ trống đồng gõ nhịp và diễn ra trong nghi thức lễ tang. ý nghĩa là đánh thức người đã mất và dẫn về nơi sinh tụ đầu tiên của tổ tông.

 

 

IV. DÂN TC DAO

 

1. Khái quát về văn hóa và đời sống

Người Dao có nhiều nhánh như Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần chẹt, Dao Thanh y..., ngôn ngữ thuộc nhóm Hmông-Dao. Tại Cao Bằng, dân tộc Dao có 47.218 người, chiếm 9,63% dân số toàn tỉnh với hai nhánh là Dao Đỏ và Dao Tiền.

Người Dao sống bằng nghề nông, chủ yếu là canh tác lúa nương. Lúa nước chiếm một phần nhỏ. Chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng được chú trọng, phần nhiều được dùng vào lễ tục truyền thống như ma chay, cưới hỏi.

Người Dao sống du canh du cư, những năm gần đây, thực hiện chính sách mới, người Dao sống định canh định cư, bên cạnh việc trồng lúa, còn phát triển các loại cây công nghiệp như quế, bông, gai.

Người Dao ở nhà trệt, nhà nửa trệt nửa sàn và nhà sàn. Nhà có cấu tạo đơn giản. Kết cấu được liên kết khéo léo bởi các cấu kiện rời. Vách tường thường là trình đất, phên tre, phên nứa hoặc là những ván gỗ, thuận tiện khi di chuyển với đời sống du canh du cư.

Gia đình người Dao theo chế độ phụ hệ. Trong ngày cưới chú rể không đi đón dâu, việc đưa dâu do một ông thầy cúng của nhà gái đảm nhiệm. Cùng đi còn có gia đình, bạn bè nhà gái và dàn nhạc (gồm kèn, trống, xập xọe) tấu nhạc. Khi về đến nhà chồng, cô dâu phải thực hiện nhiều thủ tục trước khi bước vào nhà chồng dưới sự chứng kiến của hai họ. Sau ngày cưới, chú rể thường phải ở rể từ hai đến ba năm, những trường hợp đặc biệt có thể ở luôn nhà vợ và theo dòng họ nhà vợ.

Trang phục truyền thống của người Dao mặc trong ngày hội, ngày vui, nhất là trong đám cưới được coi là đẹp và tiêu biểu. Đặc biệt là trang phục nữ. Trang phục của họ nổi bật là hai màu đỏ và đen. Trên nền vải đen, người ta trang trí những dải đỏ nổi bật theo thân áo. Gấu váy và với dây lưng to đính tua màu đỏ. Đặc biệt là chiếc khăn vấn dài 8 thước vấn thành hình vành nón trên đầu. Khác với người Dao Đỏ, trang phục của phụ nữ Dao Tiền là màu chàm kết hợp với các dải khăn trắng. Lối trang trí các đồng tiền đính ở nẹp trước thân áo và các vòng kiềng bạc ở cổ cùng với khăn đội đầu vấn thành mái vuông đã mang đến vẻ đẹp rất riêng cho người phụ nữ Dao Tiền.

Người Dao theo tín ngưỡng đa thần - vạn vật hữu linh. Đạo giáo và Nho giáo có ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt của người Dao. Họ coi Bàn vương là thủy tổ của mình. Trong cuộc sống, họ có nhiều nghi lễ thờ cúng. đặc biệt là lễ Cấp sắc dành cho người đàn ông. Họ tin rằng, bên cạnh đời sống thực tại còn tồn tại một thế giới vĩnh hằng. Khi được cấp sắc, họ có quyền tham gia các nghi lễ thờ cúng trong cộng đồng, có tên ở cõi âm, tên của họ vĩnh viễn không mất và sẽ được con cháu thờ cúng.

Người Dao sử dụng chữ Hán nhưng đã được Nôm hóa. Khi đã là thầy cúng thì bắt buộc phải biết đọc các loại sách viết bằng chữ Nôm - Dao.

2. Âm nhạc dân gian

Hát ru là một lối hát truyền miệng, từ thế hệ này qua thế hệ khác đều thuộc lòng. Nội dung hát ru nói về quê hương, nương rẫy, ruộng đồng, sông núi đến quả đỗ, quả gắm, con cá, con muỗn... nhưng chất chứa trong đó khát vọng cuộc sống hạnh phúc mà họ luôn tìm kiếm để dành cho trẻ. Giai điệu trong hát ru của người Dao Đỏ rất ngọt ngào, trìu mến gần gũi với tâm sinh lý trẻ.

Pá Dung là lối hát trong sinh hoạt thường ngày. Họ hát Pá Dung sau những giờ lao động vất vả, hoặc trai gái ngồi bên nhau tâm tình, hát trong đám cưới, ngày vui của cộng đồng. Pá Dung có thể hát đồng thanh, mỗi nhóm khoảng hai đến ba người, các nhóm đối đáp với nhau. Đối với người Dao, hát Pá Dung giao duyên không chỉ là dịp nam nữ được bộc lộ khả năng đối đáp, tài ứng xử, năng khiếu cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật của mình, mà còn là cơ hội để các bạn tìm hiểu nhau và chọn người bạn đời trăm năm ưng ý.

 

 

V. NGƯI SÁN CH

(là nhóm địa phương của dân tộc Sán Chay)

 

1. Khái quát về văn hóa và đời sống

Người Sán chay hay còn gọi là: Hờn bán, Trùng, Trại. Người Sán chay gồm các nhóm địa phương: Cao lan, Sán chỉ, thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Theo như các nhà ngôn ngữ học, dân tộc Sán chay chia làm hai nhóm được phân biệt với nhau về ngôn ngữ. Nhóm nói tiếng Cao lan gần gũi với tiếng Tày, Nùng. Nhóm nói tiếng Sán chỉ gần với thổ ngữ Hán, phương Nam.

Tại Cao Bằng, người Sán chỉ có 6.051 người, chiếm 1,23% dân số toàn tỉnh. Họ sống tập trung nhiều ở khu vực phía Tây của tỉnh. Người Sán chỉ sống tập trung vài chục nóc nhà, thành từng xóm bản quây quần bên nhau. Trong nhà người Sán chỉ, người chồng (cha) là chủ gia đình. Người Sán chỉ làm ruộng nước là chính yếu. Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng.

Lễ cưới của người Sán chỉ do nhà trai tổ chức. Sau lễ cưới, cô dâu phải ở lại nhà mẹ đẻ một thời gian, thỉnh thoảng mới về nhà chồng. Phải đợi đến lúc có mang mới về ở hẳn nhà chồng.        

Hiện nay trang phục của người Sán chỉ ảnh hưởng lối ăn mặc của người Kinh và có phần giống với người Tày trong cuộc sống thường ngày. Riêng phụ nữ khi mặc quần áo có thêm chiếc dây lưng để đeo bao dao. Trong các ngày lễ Tết, hội hè, phụ nữ Sán chỉ có thắt thêm hai ba chiếc dây lưng bằng lụa hay nhiễu với những màu sắc khác nhau.

2. Lễ Cấp sắc

Lễ Cấp sắc là một sinh hoạt tín ngưỡng của người Sán chỉ. Sau khi được Cấp sắc, họ được quyền tham gia vào các hoạt động tâm linh trong cộng đồng. Người Sán chỉ quan niệm rằng, khi được cấp sắc thì không những không sợ ma quỉ làm hại bản thân mà còn có thể bảo vệ được người khác trước ma quỉ, giúp gia đình làm ăn thuận lợi, phát đạt. Mặt khác, họ cho rằng, sau khi chết họ sẽ được thờ cúng từ đời này qua đời khác bởi các đệ tử  và không sợ mất tên tuổi. Có nhiều bậc sắc, bậc cao nhất phải dành cho những người thuận nghề và đã có gia đình.  

Việc Cấp sắc là một việc quan trọng trong đời mỗi người đàn ông do vậy người được cấp sắc phải học chữ Hán, học các phép thuật và học cúng, cũng như chuẩn bị về phần vật chất từ nhiều năm trước. Thường một lễ Cấp sắc diễn ra rất tốn kém, đòi hỏi nhiều tiền của, công sức của gia đình và làng, bản, nên khi nào họ chuẩn bị đủ các điều kiện mới tổ chức lễ Cấp sắc.

Trong một lễ Cấp sắc, người được cấp sắc phải trải qua nhiều nghi thức, cùng với sự tham gia của một thầy cúng chính, thầy cúng phụ, thầy đọc thánh sư và lễ ca, các thầy tấu nhạc cùng những người tham gia nhảy múa. Mở đầu lễ là tiếng trống, chiêng, thanh la, kèn, chũm chọe, tiếp đến là người được cấp sắc phải ngồi trước bàn thờ, nét mặt và tâm trí trang nghiêm thành kính, chờ đợi và tin tưởng, cùng các lớp hành lễ: xin được cấp sắc, hát, nhảy múa, lên đồng và mãn lễ.

Trình tự các bước trong lễ Cấp sắc thường bao gồm:

- áy cỏng đào-Pống tiệp (Dâng sớ tổ tiên)

- Cháy nạn (Giải hạn cho đứa trẻ)

- Nình ngò đài-Cháy shay (Thông qua trình tự thủ tục lễ Cấp sắc)

- Cáo oắn (Dạy cho đứa trẻ biết đạo làm người)

- Đưa họ tên người được cấp sắc lên bàn thờ tổ tiên

- Cháy tào (Lễ công nhận trưởng thành cho người được cấp sắc)

Trong lễ Cấp sắc, âm nhạc và múa là phần không thể thiếu. Nó không chỉ làm cho không khí lễ Cấp sắc trở nên vui vẻ, nhất là người được cấp sắc đã đạt ý nguyện, mà còn làm thỏa mãn nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của cộng đồng. Thông qua âm nhạc, mối quan hệ cộng đồng, làng, bản được gắn kết chặt chẽ hơn.

 

VI. DÂN TC HMÔNG

 

1. Khái quát về văn hóa và đời sống

Người Hmông (Mèo) có tên tự gọi là: Hmông, Na miẻo và các tên gọi khác là: Mẹo, Mèo, Miếu, Ha, Mán trắng. Người Hmông có các nhóm địa phương là: Hmông Trắng, Hmông Hoa, Hmông Đỏ, Hmông Đen, Hmông Xanh, Na miẻo. Tiếng Hmông thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông-Dao. Tại Cao Bằng, người Hmông có 41.437 người, chiếm 8,45% dân số của tỉnh.

Người Hmông sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Cây lương thực chủ yếu là lúa và ngô. Họ thường canh tác theo lối du canh. Ngoài ra, đồng bào Hmông còn trồng cây lanh để lấy sợi làm vải. Trong cuộc sống, người Hmông sống hòa thuận, trong dòng họ nếu có người gặp nguy nan họ thường giúp đỡ tận tình, coi như người trong chính gia đình mình. Người Hmông thường cư trú quây quần theo từng dòng họ, trưởng họ đảm nhiệm công việc chung. 

Hôn nhân của người Hmông theo tập quán tự chọn bạn đời. Những buổi cùng lên nương, cùng xuống chợ, đi hội hè đã là những dịp để các bạn trẻ đến với nhau. Khi đã là vợ chồng, họ thường sống rất hòa thuận, rất ít khi bỏ nhau.

Người Hmông ăn Tết vào dịp tháng 12 dương lịch, trong những ngày Tết họ thường tổ chức múa khềnh, ca hát và chơi các trò chơi dân gian.

2. Âm nhạc dân gian

Âm nhạc dân gian của người Hmông cũng rất đặc trưng, nhiều bài dân ca dân nhạc, điệu múa gắn với các nhạc cụ trong đó khềnh là nhạc cụ khá tiêu biểu. Là một nhạc cụ hơi đa thanh, khềnh gồm có 6 ống trúc dài ngắn khác nhau, bên trong mỗi ống có gắn lưỡi gà, phần chứa lưỡi gà được đặt trong một bầu kín có vòi thổi. Có mặt trong nhiều không gian sinh hoạt văn hóa, bà con người Hmông sử dụng khềnh những lúc rảnh rỗi, trong ngày hội, ngày tết, khi đi chơi chợ, những nơi đông người. Đối với các chàng trai Hmông, trình diễn khềnh còn là dịp để chinh phục bạn gái mà mình yêu thích. 

Múa khềnh là lối múa rất được người Hmông yêu thích. Khềnh là nhạc cụ và cũng là đạo cụ khi múa. Múa khềnh trên cọc là một hình thức vừa thổi khềnh vừa đứng và múa trên 3 chân cọc. Lối trình diễn này rất khó, đòi hỏi nhiều kỹ thuật cá nhân khi phải làm chủ sự thăng bằng trong lúc xoay mình đổi hướng mà vẫn đảm bảo tiếng khềnh được liên tục. Ngoài ra, cũng có những bài múa khềnh được ‘chú thích’  với những câu thơ mang ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc. Ví dụ như:

Bò to thì mặc bò to

Ba cọc chụm lại thì hơn sức bò

Dù ai kể xấu chọc bơm

Lòng ta vẫn chắc như cọc ba chân.

Hay bài Xẽng tà roư trá kứ tì (Dòng họ loài người) kể về nguồn gốc của dòng họ loài người được sinh ra. Ví sự chung sống đoàn kết của các dòng họ như chiếc kiềng ba chân vững chắc.

Bà kí biết sinh

Sinh được quả trứng tròn

Trứng tròn lăn lóc

Không chân, không tay, không mồm

Thương con bà để trong lòng

Trứng nở vừa tròn trăm gà

Cúng tròn trăm hai

Đông con bà chẳng đặt tên cho ai

Bà tung con lên trời

Đặt tên tìm họ, có con rơi mắc cành thông

Đặt tên họ là họ Nông

Con thì rơi mắc cành bàng

Đặt tên họ là họ Hoàng

Có con rơi xuống bờ tre

Đặt tên họ là họ Lê

Con thì rơi xuống bờ rào

Đặt tên họ là họ Đào

Hỡi loài người đều sinh ra cùng mẹ một cha

Hãy đoàn kết múa ca

Tiếng khèn mãi vang xa.

 



LI KT

 

Văn hóa nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng của các tộc ít người luôn là một thực thể sống động, nó tồn tại và được lưu truyền qua chính đời sống sinh hoạt cộng đồng của mỗi dân tộc. Chính sự tồn tại và lưu truyền này đã tạo ra sự phong phú và đa dạng trong âm nhạc. Những hình thức và thể loại nghệ thuật đặc trưng ở mỗi một dân tộc sẽ truyền tải tất cả những gì đã và đang diễn ra trong cộng đồng của họ một cách đa dạng nhất.

Tuy nhiên trong thời kỳ phát triển, hội nhập kinh tế, khoa học và văn hóa, đời sống mới mang lại nhiều vật chất, tiện nghi, ấm no hơn nhưng cũng chính nó làm mất đi nhiều nét văn hóa mang đậm bản sắc của mỗi dân tộc. Các dân tộc ở Cao Bằng cũng không nằm ngoài vòng xoáy ấy. Thiết nghĩ trước sức ép của hội nhập toàn cầu, bên cạnh việc tự ý thức bảo tồn của người dân thì việc hỗ trợ từ các cơ quan đoàn thể, các cấp các ngành trong việc xây dựng các mô hình bảo tồn, các lớp truyền dạy cho thế hệ trẻ thấu hiểu những giá trị văn hóa âm nhạc mà các thế hệ trước đang nắm giữ là hết sức cấp thiết. Sự vững bền trong tiếp nối văn hóa truyền thống sẽ không thể không cần đến vai trò giáo dục. Một phương thức hữu hiệu, đặc biệt phát huy trong thời hiện tại.  

 

 



[1]. Biểu diễn và dịch lời Dương Thị Thùy và Lý Thị Phương

Thêm một trao đổi