03-04-2014, 09:34

ĐIN DÃ, SƯU TM ÂM NHC DÂN GIAN
DÂN T
C NÙNG, TÀY, SÁN CHAY TỈNH LẠNG SƠN

(THUỘC DỰ ÁN H TR VĂN HÓA VIT NAM VÌ S PHÁT TRIN
B
N VNG 2005-2009 DO QUỸ SIDA – THỤY ĐIỂN TÀI TRỢ)

                                              NÔNG TH NHÌNH - HOÀNG ANH THÁI

 

 

Những người thực hiện:

Nhóm nghiên cứu:

- Nông Thị Nhình - Chủ nhiệm dự án

- Hoàng Anh Thái - Cán bộ nghiên cứu

- Tạ Quang Động - Cán bộ nghiên cứu

- Văn Đình Tiến Dũng - Cán bộ nghiên cứu

Nhóm thu thanh, ghi hình:

- Nguyễn Kha - Đạo diễn

- Nguyễn Quốc Hân - Quay phim

- Nguyễn Duy Tuấn - Quay phim

- Trần Hải Đăng - Âm thanh

- Nguyễn Anh Dũng - Âm thanh

- Nguyễn Ngọc Long - Chụp ảnh

- Nguyễn Trần Khánh - Kỹ thuật trường quay

Cán bộ địa phương:

- Hoàng Huy ấm - Cán bộ Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Lạng Sơn

- Đoàn Trung Diễn - Cán bộ Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Lạng Sơn

 

 

I. Đôi nét về địa lý, dân cư
c
ác dân tộc ít người tỉnh Lạng Sơn

 

Lạng Sơn, tỉnh nằm ở miền núi Đông Bắc Việt Nam, diện tích 8.187,25km2, mật độ dân số trung bình là 86 người/m2. Những nơi có mật độ dân số cao phần lớn tập trung ở những thị trấn, huyện lỵ có vị trí địa hình thuận lợi, tương đối bằng phẳng và có hệ thống đường giao thông thuận tiện. Những nơi có mật độ dân số thấp là những huyện phân bố ở vùng địa hình núi cao hơn, có hệ thống giao thông còn kém phát triển. Lạng Sơn là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc, dân tộc Nùng chiếm 43,86%, dân tộc Tày chiếm 35,92%, dân tộc Kinh chiếm 15,26%, dân tộc Dao chiếm 3, 54%, dân tộc Hoa, Sán chay, Hmông (Mèo) chiếm số ít. Ngoài ra, còn một số dân tộc khác như: Thái, Mường, Êđê, Sán dìu... số lượng chỉ vài chục hoặc vài trăm người[1]. Như vậy, có thể thấy ở Lạng Sơn dân tộc Tày, Nùng chiếm số dân đông nhất.

Theo kế hoạch dự án, tại tỉnh Lạng Sơn, đoàn công tác chủ yếu tập trung vào sưu tầm nghệ thuật âm nhạc và múa dân gian của hai dân tộc Tày, Nùng. Và dựa vào thực tế tư liệu đã sưu tầm của Viện Âm nhạc sẽ sưu tầm bổ sung thêm nghệ thuật âm nhạc dân tộc Sán chay. Bởi vậy, chúng tôi sẽ đi sâu hơn giới thiệu đôi nét về ba dân tộc trên.

Dân tộc Nùng:là thành viên của nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Dân tộc Nùng được chia thành nhiều nhóm địa phương gắn liền với địa danh nơi cư trú hoặc đặc điểm trang phục. Lạng Sơn là nơi cư trú của của ba nhóm Nùng: Nùng inh, Nùng phàn slình, Nùng cháo. Nùng inh, Nùng phàn slình có mặt ở hầu khắp các huyện trong tỉnh, Nùng cháo tập trung chủ yếu ở huyện Văn Lãng, huyện Tràng Định.

Đã từ lâu người Nùng sống định canh định cư thành làng bản. Mỗi bản đều có tên gọi riêng thường gắn liền với địa danh cụ thể gọi theo truyền thuyết hay một sự kiện lịch sử nào đó ở địa phương. Bản người Nùng cư trú theo nhóm dân tộc, ít có trường hợp xen kẽ nóc nhà với dân tộc khác. Là dân cư nông nghiệp làm nương rẫy kết hợp với ruộng nước. Địa bàn cư trú của người Nùng ít thuận lợi hơn người Tày. Nương rẫy đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất trồng lúa cạn, ngô, kê... và trồng lúa nước trên các triền ruộng bậc thang. Trồng bông, dệt vải, rèn đúc, làm gốm là nghề phụ của nhiều gia đình người Nùng vừa là nguồn hàng hóa trao đổi lấy lương thực, vừa là sản phẩm để cải thiện cho đời sống gia đình.

Dân tộc Tày: cũng là thành viên trong cộng đồng dân tộc nói ngôn ngữ Tày- Thái. Người Tày là dân tộc đông thứ hai sau người Kinh và đứng thứ nhất trong 53 dân tộc ít người ở Việt Nam. Tại Lạng Sơn, dân tộc Tày bao giờ cũng lập làng, làm ruộng ở những vị trí thuận lợi hơn so với các dân tộc khác. Bản của người Tày phổ biến được cấu thành từ những gia đình phụ quyền thuộc các dòng họ khác nhau. Bản ít có 2,3 dòng họ, bản lớn có tới 10 dòng họ. Địa bàn cư trú của người Tày đa phần ở các thung lũng, có nhiều đồng ruộng lớn, trù phú. Nguồn sinh sống chính bằng kinh tế nông nghiệp ruộng nước. Các loại cây ăn quả, đặc biệt là cây hồi, cây thuốc lá trở thành nguồn hàng quan trọng. Cũng giống như dân tộc Nùng, nghề thủ công đan lát bằng tre, trúc, sản xuất công cụ, nghề gốm... đã đáp ứng được nhiều nhu cầu của dân địa phương.

Dân tộc Sán chay: là dân tộc đứng thứ năm trong các dân tộc ít người tỉnh Lạng Sơn. Địa bản cư trú xưa kia của đồng bào là vùng giáp ranh giữa các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Trung Quốc. Do những biến động lịch sử, dân tộc này đã di cư đến Việt Nam cách đây 400 năm. ở lạng Sơn (theo số liệu thống kê 1995) gồm có 4.019 người. Vốn đã định cư lâu đời, đồng bào cư trú thành từng bản, xưa kia là nhà sàn giống nhà người Tày. Gần đây các bản xen ghép với người Việt. Người Sán chay là cư dân nông nghiệp, họ cũng có những truyền thống và kinh nghiệm canh tác lúa nước. Nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong đời sống cư dân.  

 

II. Các hình thức sinh hoạt âm nhạc
và múa dân gian các dân tộc Nùng, Tày, Sán chay

 

Các dân tộc ít người đều có những đặc điểm tiêu biểu của mình về địa hình cư trú, đời sống kinh tế, phong tục tập quán và có một nền nghệ thuật độc đáo riêng, trong đó có âm nhạc dân gian. Tuy nhiên, âm nhạc dân gian mỗi vùng đều được hình thành trên cơ sở phong tục tập quán, sinh hoạt và đặc trưng ngôn ngữ của vùng đó. Các dân tộc ở tỉnh Lạng Sơn có nhiều vùng sống xen kẽ nhau, nên họ có những đặc điểm giống nhau và khác nhau về nhiều mặt. Nhưng nhìn chung các sinh hoạt âm nhạc dân gian đều có những sinh hoạt liên quan đến việc chăm lo đời một con người, những sinh hoạt âm nhạc dân gian nói riêng, những sinh hoạt văn hóa nói chung đều do người lao động sáng tạo, gìn giữ, truyền bá và hưởng thụ.

1. Các hình thức sinh hoạt âm nhạc dân gian dân tộc Nùng

Dân ca:

Hát Sli - là hình thức hát phổ biến của dân tộc Nùng. Chủ yếu là những bài hát giao duyên (hát đối đáp nam - nữ)  vào những ngày chợ phiên, ngày Tết, ngày hội đầu xuân và những ngày nhàn rỗi. Ngoài ra, trong những dịp mừng nhà mới, mừng sinh nhật người già, trong ngày lễ trẻ đầy tháng... họ có thể chúc mừng nhau bằng những lời Sli.

Hát Lượn: với người Nùng hát Lượn cũng là hình thức hát giao duyên (đối đáp nam nữ) nhưng chỉ hát trong trường hợp Sli cuộc (hát vào ban đêm ở trong nhà) và chỉ hát khi gần sáng gà đã gáy gần kết thúc cuộc Sli đêm.

Hát Cỏ lảu: là hình thức hát trong sinh hoạt đám cưới, là những bài hát xin vào cửa, xin trao lễ, mời nước, mời rượu... khi đến đón dâu. Những bài hát của Nàng tẳng (cô đón) và những bài đáp lễ của nhà gái với nhà trai.

Hát Then: là hình thức sinh hoạt lễ nghi tín ngưỡng. Đây là hình thức diễn xướng mang tính tổng hợp bao gồm: âm nhạc, múa, văn học, trang trí mỹ thuật, trò diễn... Then được sử dụng trong những dịp quan trọng của làng bản như: hội làng cầu mùa hay trong từng gia đình vào dịp năm mới, vào nhà mới, sinh con đầu lòng, lễ sinh nhật hoặc với mục đích nhằm giải hạn, trừ tà, chữa bệnh...

Mo, Tào: cũng như Then là hình thức sinh hoạt lễ nghi tín ngưỡng. Mo, Tào thường được sử dụng trong những dịp quan trọng của làng bản như: hội làng cầu mùa hay trong từng gia đình như: lễ sinh nhật, giải hạn, trừ tà chữa bệnh... Riêng Tào chuyên dùng trong các đám tang lễ, lễ Cấp sắc của Then...

Hát ru: cũng như nhiều dân tộc khác, dân tộc Nùng cũng có là điệu ru riêng. Thường ru con trên nôi, địu trên lưng kể cả khi làm những công việc gia đình.

Hát Đồng dao: trẻ em dân tộc Nùng đặc biệt có nhiều làn điệu Đồng dao độc đáo, thường vừa hát vừa kết hợp các trò chơi và gắn với những lời ca nhận thức về ngôn ngữ, địa danh làng bản.

 

Dân nhạc:

Dân tộc Nùng ít có những nhạc cụ dùng để độc tấu, thường nhạc cụ dùng để đệm cho hát như: đàn tính, xóc nhạc dùng trong hát Then, hòa tấu bộ gõ phục vụ trong các đám tang, múa sư tử trong lễ hội Lồng tồng và đánh vui trong những ngày tết Nguyên đán. Nhạc cụ trong đám tang thường sử dụng: trống, thanh la, chũm chọe, khánh, tù và, đôi nơi có thổi sáo.

Múa:múa của người Nùng chủ yếu là các điệu múa trong nghi lễ, tín ngưỡng như: múa Chầu trong nghi lễ Then, múa Sliên tâng trong đám tang, múa Đèn, múa Sliên tâng trong lễ hội Lồng tồng...

 

2. Các hình thức sinh hoạt âm nhạc dân gian dân tộc Tày

Dân ca:

Hát Lượn: là hình thức sinh hoạt âm nhạc phổ biến và quan trọng trong đời sống người Tày. Người Tày Lạng Sơn có chủ yếu là Lượn Slương, là hình thức hát đối đáp vào những dịp mùa xuân hoặc những đêm nông nhàn. Đây là hình thức hát có tổ chức thành cuộc hát có thể 1 đêm, 2 hoặc 3 đêm. Lượn cũng dùng trong những dịp chúc mừng nhà mới, trong đám cưới, trong cuộc hát Then...

Hát Phong Slư: là những bức thư tình, tình yêu đôi lứa, là thể loại dân ca giao duyên độc đáo của dân tộc Tày. Những bức thư này được viết bằng chữ Nôm-Tày trên vải sa đỏ rộng trên dưới một mét vuông. Thư được viết thông qua một người trung gian, được người trung gian thể hiện (Slấy cá) ngâm cho cả hai bên trai gái cùng nghe.

Hát Quan làng: là hình thức sinh hoạt âm nhạc trong đám cưới do đại diện nhà trai đảm nhiệm từ khi đi đón dâu đến khi đưa dâu về và kết thúc đám cưới. Người hát Quan làng gần như là người điều khiển mọi nghi lễ bằng những bài hát khác nhau phù hợp với từng nghi thức đã được quy định sẵn.

Hát ru: cũng như nhiều dân tộc khác, dân tộc Tày cũng có làn điệu ru riêng. Lời ru giản dị, mộc mạc. Họ thường ru con trên nôi, địu trên lưng.

Hát Đồng dao: trẻ em dân tộc Tày cũng như dân tộc Nùng đặc biệt có nhiều làn điệu Đồng dao độc đáo, thường vừa hát vừa kết hợp các trò chơi và gắn với những lời ca nhận thức về ngôn ngữ, địa danh làng bản.

Hát Then: cũng giống như người Nùng, hát Then là hình thức sinh hoạt lễ nghi tín ngưỡng. Là hình thức diễn xướng mang tính tổng hợp của các bộ môn nghệ thuật dân gian của nhân dân Tày bao gồm: âm nhạc, múa, văn học, trang trí mỹ thuật, trò diễn... Then được sử dụng trong những dịp quan trọng của làng bản như: hội làng cầu mùa hay trong từng gia đình vào dịp năm mới, vào nhà mới, sinh con đầu lòng, lễ sinh nhật hoặc với mục đích nhằm giải hạn, trừ tà, chữa bệnh...

Dân nhạc:

Dân tộc Tày cũng như dân tộc Nùng ít có những nhạc cụ dùng để độc tấu, phổ biến chỉ sử dụng bộ gõ hòa tấu trong múa sư tử vào các ngày Tết Nguyên đán, ngày hội Lồng tồng vào mùa xuân gồm các nhạc cụ: trống sư tử, thanh la, chũm chọe. Đàn tính cùng bộ xóc nhạc đệm cho hát Then. Đám tang của người Tày cũng thường mời thầy Tào của người Nùng để làm lễ gồm hát và sử dụng bộ gõ hòa tấu với nhau phục vụ trong các đám tang.

Múa:Cũng như dân tộc Nùng, múa của người Tày chủ yếu là các điệu múa trong nghi lễ tín ngưỡng.

 

3. Dân tộc Sán chay

Dân ca:

Hát Xắng cọ: là lối hát đối đáp của thanh niên nam nữ dân tộc Sán chay. Xắng cọ thường hát vào ban đêm, vào những dịp mùa xuân, ngày Tết, ngày hội và những khi nhàn rỗi và hát ở trong nhà. Hát theo cuộc hát có thứ tự bài bản.

Hát Chục cọ: cũng là lối hát đối đáp của thanh niên nam nữ, nhưng thường hát ở ngoài trời. Nghĩa là họ có thể hát khi nam nữ gặp nhau ở chợ, khi đi làm nương, khi đi hội… hát chào hỏi nhau, trêu ghẹo nhau hoặc khen ngợi ví von.

Dân nhạc:

Cũng như người Tày, Nùng, người Sán chay không có nhạc cụ độc tấu và hòa tấu trong sinh hoạt đời thường, mà sử dụng các nhạc cụ gõ trong  các nghi lễ.

 

 

III. Tổ chức lớp truyền dạy tại địa phư­­ơng

 

Qua thực tế đợt khảo sát điền dã và từ thực trạng nền âm nhạc dân gian của các dân tộc ít ng­ười tỉnh Lạng Sơn, lãnh đạo Viện Âm nhạc cùng phối hợp với lãnh đạo Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh lạng Sơn đã bàn bạc triển khai kế hoạch mở lớp truyền dạy âm nhạc truyền thống và hỗ trợ kinh phí cho 3 lớp học của 3 dân tộc Tày, Nùng, Sán chay tại 3 xã của tỉnh nh­ư sau:

-   Lớp thứ nhất - mở tại xã Gia Cát, huyện Cao Lộc (dân tộc Nùng phàn slình). Gồm 20 học viên và 3 nghệ nhân truyền dạy. Thể loại truyền dạy: hát Sli shoong hao là lối hát đối đáp và là thể loại dân ca rất phổ biến và độc đáo của ng­ười Nùng phàn slình Lạng Sơn.

-   Lớp thứ hai - mở tại xã Như­­ợng Bạn, huyện Lộc Bình (dân tộc Sán chay). Gồm 19 học viên do 2 nghệ nhân truyền dạy. Thể loại truyền dạy: hát Chục cọ vàhát Xắng cọ là hình thức hát đối đáp, là lối hát dân ca phổ biến của ngư­ời Sán chay tại xã Nh­ượng Bạn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

-   Lớp thứ 3 - mở tại xã Khuất Xá, huyện Lộc Bình (dân tộc Tày). Gồm 14 học viên do 2 nghệ nhân truyền dạy. Thể loại truyền dạy: hát Lượn, hát Quan làng, hát Phong sl­ư là những điệu hát dân ca độc đáo và phổ biến của ngư­ời Tày tỉnh Lạng Sơn.

 

 

IV. Những kiến nghị và đề xuất

 

Thực trạng qua đợt sưu tầm điền dã, khảo sát, tuy đã thu về được những thước phim có giá trị về nghệ thuật âm nhạc dân gian một số dân tộc ít người tỉnh Lạng Sơn. Song vấn đề đặt ra trước mắt lại có những nỗi băn khoăn hết sức cấp thiết bởi qua thực tế những hình thức sinh hoạt âm nhạc đã từng gắn bó và rất quan trọng trong đời sống của nhân dân các dân tộc nay nhiều nơi chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Các nhà sưu tầm như chỉ còn đi tìm cát đãi vàng.

Cụ thể ở Lạng Sơn với dân tộc Nùng một số nơi còn có thể duy trì chút ít, nhưng với dân tộc Tày, có lẽ chỉ một thời gian không xa nữa sẽ không còn ai biết hát Lượn, hát Phong slư, Quan làng là những điệu dân ca rất phổ biến của người Tày nữa và một số làn điệu nhiều dân tộc khác cũng nguy cơ mất dần trong tương lai.

Bởi thế việc sưu tầm lưu giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống là hết sức cần thiết. Chúng tôi những người sưu tầm, nghiên cứu mong rằng dự án này sẽ phần nào có kế hoạch đầu tư sâu hơn, quan tâm một cách thực sự cho lớp truyền dạy nghệ thuật âm nhạc dân gian truyền thống, để không phải chỉ có sưu tầm, nghiên cứu nhằm lưu giữ mà làm sao phải truyền dạy được cho lớp thanh thiếu niên hiện nay và duy trì nó dưới nhiều hình thức.

 

 



[1]. Số liệu trích trong cuốn Địa chí Lạng Sơn, 1999.

Thêm một trao đổi