11-03-2014, 10:57

ĐIỀN DÃ, SƯU TẦM ÂM NHẠC DÂN GIAN
DÂN TỘC KHƠ ME VÀ DÂN TỘC HOA
        TỈNH SÓC TRĂNG

 (thuộc Dự án “Hỗ trợ Văn hóa Việt nam vì sự phát triển
bền vững 2005 - 2009” do Quỹ SIDA Thụy Điển tài trợ)

 

 Hoàng Anh Thái - Tạ Quang Động 

 

                          

Nhóm nghiên cứu khoa học dự án:

- PGS-TS-NGƯT Lê Văn Toàn

- Nghiên cứu viên Tạ Quang Động

- Nghiên cứu viên Hoàng Anh Thái

Nhóm thu thanh và quay video tư liệu dự án:

Đạo diễn hình ảnh:         NSƯT Nguyễn Kha

Quay video:                    Võ An Khánh, Nguyễn Quốc Hân

Thu thanh:                      Trần Hải Đăng, Nguyễn Anh Dũng 

Kỹ thuật trường quay:     Nguyễn Danh Long, Nguyễn Trần Khánh,

                                       Nguyễn Thế Đức, Đinh Việt Thắng, Ngô Đức Lưu

Chụp ảnh:                       Nguyễn Ngọc Long 

 

Sóc Trăng là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long; phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh, phía Đông và Đông Nam giáp biển. Sóc Trăng là vùng đất trẻ, được hình thành qua nhiều năm lấn biển nên địa hình bao gồm phần đất bằng, xen kẽ là những vùng trũng và các giồng cát. Khí hậu mang tính chất khí hậu đại dương hai mùa: mùa mưa từ giữa tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau. Sóc Trăng là tỉnh nông nghiệp, chủ yếu trồng lúa (chiếm hơn 90% diện tích đất canh tác).

Dân số toàn tỉnh có hơn 1,2 triệu người, trong đó người Kinh chiếm 65,28%, người Khơ me chiếm 28,85%, người Hoa chiếm 5,83% và còn lại là một số dân tộc khác. Tuy có nhiều điểm khác nhau về nguồn gốc, phong tục tập quán, ngôn ngữ, nhưng trong quá trình cộng cư, các dân tộc sinh sống trên mảnh đất Sóc Trăng đã sớm đoàn kết, gắn bó bên nhau tạo cho nơi đây một diện mạo văn hóa thống nhất trong đa dạng

 

I. DÂN TC KHƠ ME SÓC TRĂNG

1. Đời sống xã hội

Người Khơ me có dân số đứng thứ 5 trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ từ lâu đời. Dân tộc Khơ me còn có các tên gọi khác là Miên, Cuv, Cul, Cu, Cur, Thổ, Khơ me krôm… Người Khơ me Nam Bộ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, ngữ hệ Nam á. Họ có tiếng nói và chữ viết riêng.

Sóc Trăng có khoảng 350.000 người Khơ me, đông nhất trong số các địa phương có người Khơ me sinh sống. Đồng bào Khơ me tỉnh Sóc Trăng sinh sống tập trung tại 3 huyện Long Phú, Vĩnh Châu và Mỹ Xuyên.

Nền kinh tế của đồng bào Khơ me chủ yếu là nông nghiệp. Họ đã biết thâm canh lúa nước từ lâu đời với nhiều kinh nghiệm và kỹ thuật canh tác, từ việc chọn giống đến gieo, trồng, cấy, hái. Đồng bào cũng phát triển kinh tế toàn diện như chăn nuôi trâu bò để cày kéo, nuôi lợn, gà, vịt đàn, thả cá và phát triển các nghề thủ công như dệt, gốm, làm đường từ cây thốt nốt.

Đồng bào Khơ me sống quần tụ với nhau trong các phum, sóc. Phum là đơn vị cư trú có từ một đến vài gia đình, còn sóc do nhiều phum hợp thành.

Người Khơ me vốn ở nhà sàn nhưng hiện nay số đông người Khơ me ở nhà đất. Bộ khung nhà đất được làm khá chắc chắn. Nhiều nơi làm theo kiểu vì kèo như nhà của người Kinh cùng địa phương. Nhà được chia làm hai phần theo chiều ngang, một phần làm nơi ở, một phần dành cho bếp núc. Gian để ở lại chia thành hai phần theo chiều dọc: phần phía trước, ở giữa kê bàn ghế tiếp khách, bên cạnh thường có tủ kính đựng những chiếc gối thêu vừa để trang trí vừa để dùng khi có khách. Sau bộ bàn ghế tiếp khách là bàn thờ Phật. Nửa sau, bên phải là buồng của vợ chồng chủ nhà, bên trái là phòng con gái.

Người Khơ me có kỹ thuật nhuộm vải đen, bóng, lâu phai từ quả mặc lưa để may trang phục. Trang phục cổ truyền Khơ me có cá tính ở lối mặc váy và phong cách trang phục. Ngày thường, nam giới trung niên và người già mặc bộ bà ba đen, quấn khăn rằn trên đầu. Trong dịp lễ, Tết, họ mặc áo bà ba trắng, quần đen; hoặc áo đen, quàng khăn trắng chéo ngang hông vắt lên vai trái. Trong đám cưới, chú rể thường mặt bộ "xà rông" (hôl) và áo ngắn bỏ ngoài màu đỏ. Đây là loại áo xẻ ngực, cổ đứng cài cúc, quàng khăn trắng vắt qua vai trái và đeo thêm “con dao cưới” (kầm pách) với ý nghĩa bảo vệ cô dâu. Phụ nữ Khơ me Nam Bộ cổ truyền thường mặc “xăm pốt”, là loại váy bằng tơ tằm, hình ống (kín). Chiếc váy điển hình là loại xăm pốt chân khen, một loại váy hở, quấn quanh thân, nhưng không giống với nhiều tộc người khác ở cách mặc váy. Khi mặc, người ta luồn giữa hai chân từ sau ra trước, rồi kéo lên dắt cạnh hông. Váy được xem là trang phục đặc trưng độc đáo của người Khơ me Nam Bộ. Trong những ngày lễ lớn, họ thường mặc váy xăm pốt pha muông, mỗi ngày mặc một màu khác nhau. Ngày nay, các loại trang phục trên ít thấy người Khơ me mặc, có chăng chỉ còn bắt gặp trên sân khấu cổ truyền. Ngoài ra, phụ nữ Khơ me còn phổ biến loại khăn krama dệt ô vuông màu xanh, đỏ trên nền trắng. Ngày cưới các cô dâu thường mặc chiếc xăm pốt hôl màu tím sẫm hay hồng cánh sen, áo dài tăm pông màu đỏ thẫm, quàng khăn chéo qua người, đội mũ pkel plac - loại mũ tháp nhọn nhiều tầng bằng kim loại hay giấy bồi. Hiện nay, trang phục thường ngày người Khơ me cũng ảnh hưởng của người Kinh.

Hàng năm, người Khơ me có nhiều ngày hội, ngày Tết dân tộc. Các ngày lễ lớn là Chôn chơ nam thơ mây (năm mới), lễ Phật đản, lễ Đôn ta (xá tội vong nhân), Oóc om bóc (cúng trăng).

Người Khơ me theo đạo Phật dòng tiểu thừa. Mỗi sóc thường có một ngôi chùa có sư trụ trì. Trong mỗi chùa thường có nhiều sư, nhưng chỉ là sư nam, gọi là các ông lục và do sư cả đứng đầu. Trong đời sống văn hóa của người Khơ me, chùa có một vị trí rất quan trọng. Mỗi người sinh ra, lớn lên  rồi mất đi đều gắn bó mật thiết với ngôi chùa, bởi vậy ngôi chùa Khơ me không chỉ là nơi tu hành thờ phụng mà còn là trường dạy chữ, dạy nghệ thuật, là trung tâm giáo dục của nhân dân trong vùng. Chùa có cả thư viện lưu giữ thư tịch cổ, thậm chí cả bảo tàng viện. Thanh niên Khơ me trước khi trưởng thành thường đến chùa tu học để rèn luyện thành người có tri thức và đức hạnh. Chùa được coi là tụ điểm sinh hoạt văn hóa - xã hội của đồng bào người Khơ me vào các kỳ hội lễ. Những chùa lớn thường có đội trống, kèn, dàn Ngũ âm, có đội ghe ngo...     

Lễ cưới của người Khơ me thường diễn ra theo mùa (từ tháng 10 đến tháng 4 theo Phật lịch) hoặc không theo mùa, nhưng người Khơ me đặc biệt tránh tổ chức lễ cưới vào mùa mưa. Trai gái được tự do tìm hiểu, không bị cha mẹ cấm đoán. Tuy nhiên việc cưới hỏi phải được thực hiện qua các bước: Lễ Si sla dâk (như lễ dạm ngõ của người Kinh), lễ Si sla kân seng (như lễ ăn hỏi), lễ Si sla banh cheabpeak (lễ xin cưới), lễ nhập gia (lễ định ngày cưới) và cuối cùng là lễ cưới. Lễ cưới gồm bốn lễ: lễ chăng dây (lễ buộc chỉ cổ tay), lễ Phsâm đâm nêk (lễ nhập phòng), lễ Bôs kăntêl (lễ quét chiếu), lễ Đêk sâng kât chơng mưng (lễ chung màn), lễ này giống như lễ động phòng ở người Kinh. Lễ tục này kéo dài đến ba đêm liền, hiện nay chỉ còn duy trì ở một số địa phương. Khi làm lễ Bôs kăntêl một người già đông con nhiều cháu, mạnh khỏe sẽ mang chiếu ra và hỏi: “Ai chuộc chiếu này không? Ai chuộc được sẽ giàu có, đông con lắm cháu, bảo ban ai cũng nghe…”. Lúc đó chú rể sẽ là người đứng ra chuộc chiếu, sau đó chiếu được trải ra cho cô dâu chú rể và khách ngồi. Trò chuyện xong, ông Maha cuốn chiếu lại và thay mặt cô dâu chú rể nhận quà mừng. Đồng bào Khơ me quan niệm rằng một đám cưới phải trải qua đủ các lễ tục nói trên mới được coi là hoàn thiện, nghiêm chỉnh, đúng lễ nghi phong tục.

Trong tang ma, người Khơ me có tục hỏa thiêu và gửi tro trong tháp của chùa. Chính vì vậy họ không cúng tổ tiên ở nhà và trong nhà cũng không có bàn thờ. Hàng năm có ngày lễ cúng ông bà tổ tiên được làm chung ở phum, sóc gọi là ngày lễ Xen Đôn ta (chim tổ tiên).

 

2. Các hình thức nghệ thuật dân gian dân tộc Khơ me ở Sóc Trăng

Trong khuôn khổ dự án, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát, nghiên cứu các hình thức nghệ thuật dân gian của dân tộc Khơ me ở Sóc Trăng tại các xã: xã Vĩnh Phước, xã Lai Hòa, huyện Vĩnh Châu; xã Đại Tân, xã Tài Văn, huyện Mỹ Xuyên và ấp An Khương, thị trấn Kế Sách, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

2.1. Dân ca

Hát Ay day là hình thức hát dân ca đối đáp nam nữ phổ biến và được quần chúng nhân dân ưa thích. Ay day có thể hát vào những dịp hội hè, đám tiệc vui, lúc nông nhàn. Hát Ay day có nhiều làn điệu khác nhau và có một vài nhạc cụ đệm theo như: đàn cò, gáo, khưm cùng một trống nhỏ skor giữ nhịp.

2.2. Nhạc cụ

Những chùa lớn thường có dàn nhạc Phlêng pinpeat hay còn gọi là dàn nhạc Ngũ âm. Dàn Ngũ âm thường được dùng trong các ngày hội lễ của người Khơ me như Chôn chơ nam thơ mây (mừng năm mới), lễ Phật đản, lễ Đôn ta (xá tội vong nhân), Oóc om bóc (lễ cúng trăng). Dàn Ngũ âm có âm lượng lớn, bao gồm các nhạc cụ:

Rôneat ék là nhạc khí tự thân vang gồm có 21 thanh tre với các độ dài khác nhau khoảng từ 20cm-35cm, chiều ngang rộng khoảng 5cm được buộc nối với nhau thành dàn, treo trên một giá bằng gỗ hình thuyền. Khi diễn tấu, người ta dùng đôi dùi đầu quấn vải để gõ.

Rôneat thung là nhạc khí tự thân vang gồm có 16 thanh gỗ có độ dài khác nhau khoảng từ 30cm-40cm, bề ngang rộng khoảng 5cm-6cm, cũng được sắp xếp và sử dụng giống dàn rôneat ék.

Rôneat dek là nhạc khí tự thân vang gồm 21 thanh kim loại (sắt pha đồng) có độ dài khác nhau từ 23-30cm, bề ngang khoảng 4-5cm. Đàn cũng có cấu tạo giống hai dàn rôneat trên nhưng được căng trên thùng gỗ hình chữ nhật. Khi diễn tấu dùng dùi bằng tre gõ.

Pét kông thôm là nhạc cụ tự thân vang được làm bằng đồng, có núm. Pét kông thôm là dàn cồng lớn (còn gọi là dàn cuông) gồm 16 chiếc có kích cỡ khác nhau, đường kính khoảng từ 12-16cm, thành cao từ 4-5cm. Các cồng được nối với nhau thành dàn đặt nằm trên giá bằng mây uốn tròn, nhạc công ngồi ở giữa hai tay cầm dùi gõ.

Pét koong tâuch là nhạc cụ tự thân vang được làm bằng đồng, có núm. Pét koong tâuch là dàn cồng nhỏ gồm 17 chiếc có đường kính khoảng từ 9-13cm, cao thành từ 4-5cm. Dàn cồng này cũng có cấu tạo và cách diễn tấu giống như dàn cồng lớn.

Scor phluông là nhạc cụ màng rung gồm một cặp trống có kích thước bằng nhau, đường kính mặt trống khoảng 30 cm. Thân trống bằng gỗ cao 45cm.  Cặp trống được đặt trên giá gỗ do một người sử dụng. Khi diễn tấu dùng hai dùi gõ lên hai mặt trống.

Sâmphôr là nhạc cụ màng rung. Trống sâmphôr có hai mặt không bằng nhau được bịt bằng da trâu hoặc bò, đường kính mặt lớn là 26cm, mặt nhỏ là 23cm. Thân trống bằng gỗ, cao 48cm. Khi diễn tấu dùng bàn tay vỗ lên mặt trống.

Chưng là nhạc cụ tự thân vang được làm bằng đồng, đường kính khoảng 10cm, ở giữa có núm. Chưng có hai chiếc được nối với nhau bằng một sợi dây. Khi diễn tấu người đánh chưng cầm núm dập hai chiếc vào nhau giống não bạt.

Trong đám cưới có hình thức hòa tấu dàn nhạc. Do biên chế dàn nhạc chủ yếu là các nhạc cụ dây nên còn gọi là dàn nhạc dây. Trong đám cưới của người Khơ me, mỗi nghi thức (dâng lễ vật, cắt trầu cau, buộc chỉ cổ tay…) đều có bản nhạc riêng. Ngoài ra, dàn nhạc này còn được sử dụng trong các dịp vui của cộng đồng. Biên chế dàn nhạc gồm các nhạc cụ:

Truô sô là nhạc cụ dây, chi cung kéo. Bầu đàn được làm bằng gáo dừa, chiều ngang mặt đàn là 10cm. Cần đàn dài 65cm có hai trục để mắc dây đàn. Đàn có hai dây sắt mắc cách nhau một quãng 5 (c1-g1). Vĩ đàn dùng để kéo dài 65cm.

Truô u là nhạc cụ dây, chi cung kéo giống đàn cò. Bầu đàn và mặt đàn đều được làm bằng gỗ. Bầu đàn dài 12,5cm và rộng 9cm. Cần đàn dài 67cm có hai trục để mắc dây đàn. Hai dây đàn cách nhau một quãng 5 (g1-d2). Vĩ đàn dài khoảng 57cm dùng để kéo.

Khưm là nhạc cụ dây, chi gõ. Đàn có 36 dây giống đàn tam thập lục nhưng nhỏ hơn. Khi diễn tấu dùng hai que tre nhỏ gõ trên mặt dây đàn.

Skor là nhạc cụ màng rung. Trống skor có một mặt, thân trống bằng gỗ cao khoảng 49cm thuôn nhỏ hơn so với mặt trống. Mặt bịt da trâu có đường kính 18cm, mặt rỗng nhỏ hơn có đường kính là 14cm. Khi diễn tấu, người chơi ôm trống trong lòng và dùng hai bàn tay vỗ lên mặt trống.

 

3. Sân khấu

- Rô băm:

Rô băm là nghệ thuật sân khấu truyền thống của người Khơ me. Trong Rô băm, nghệ thuật múa đóng vai trò chủ yếu. Tuồng tích là các vở có nội dung rút ra từ áng thơ anh hùng ca Ramayana của ấn Độ. Nhạc cụ sử dụng trong loại hình sân khấu này chủ yếu là kèn srâlai và đôi trống, đôi lúc cũng có cả đàn nhị, thanh la.

- Dù kê:

Nếu người Kinh ở Nam Bộ có nghệ thuật sân khấu Cải lương thì người Khơ me Nam Bộ có sân khấu Dù kê. Dù kê ra đời khoảng những năm 1920-1930. Ngoài chịu ảnh hưởng của sân khấu Rô băm, Dù kê còn tiếp thu ở một số hình thức nghệ thuật khác của người Việt như: hát Bội, Cải lương, hát Quảng. Nội dung các vở Dù kê khá đa dạng từ tích cổ đến các đề tài trong cuộc sống hiện tại. Các nhạc cụ đệm cho hát Dù kê cũng bao gồm các nhạc cụ dân gian của người Khơ me như: đàn cò, gáo, khưm cùng một trống nhỏ skor giữ nhịp.

 

II. DÂN TộC HOA ở SóC TRĂNG

1. Đời sống, xã hội

Do nhiều nguyên nhân khác nhau người Hoa đã di cư vào Việt Nam qua nhiều thời kỳ. Theo tổng điều tra dân số và nhà ở trong cả nước ngày 1 tháng 4 năm 1999, thì số người Hoa ở Việt Nam có trên 860.000 người, chiếm 1,1% dân số cả nước. Người Hoa sinh sống ở nhiều tỉnh thành khác nhau nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ, chiếm trên 90% tổng số dân cộng đồng người Hoa ở Việt Nam[1].

Người Hoa ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng có khoảng 30.000 người đều là người Triều Châu. Họ sinh sống bằng nghề làm ruộng, trồng hoa màu, nay một số chuyển sang nghề nuôi tôm. Họ sống trong những căn nhà khung tre, hoặc gỗ, vách bưng, mái lợp lá dừa. Nhà cửa đến nay đã thay đổi khá nhiều, nhiều ngôi nhà mới với phong cách kiến trúc hiện đại mọc lên, nhưng đây đó vẫn giữ được một số ngôi nhà có mái lợp ngói âm dương, kiến trúc theo phong cách truyền thống. Còn ở các thị trấn, thị tứ, họ sống chủ yếu bằng nghề buôn bán, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.

Người Hoa ở huyện Vĩnh Châu còn lưu giữ khá đậm nét nhiều phong tục, lễ nghi trong thờ cúng, cưới xin, tang ma. ở trung tâm thị trấn Vĩnh Châu có chùa Ông và chùa Bà. Tại đây, hàng năm có tổ chức 5 lần lễ: lễ Nguyên tiêu vào ngày 15/1 âm lịch, giỗ Ông (vía Ông) vào ngày 24/2 âm lịch, giỗ Bà (vía Bà) vào ngày 23/3 âm lịch, lễ Vu lan (cúng cô hồn) vào ngày 15/7 âm lịch, và cuối cùng là lễ mãn năm vào ngày 15/11 cúng tạ trời đất, thần thánh đã phù hộ cho việc làm ăn trong năm qua.

Về nghi thức cưới hỏi vẫn giữ những phong tục cổ truyền nhưng có giảm đi một số thủ tục. Chẳng hạn, trong việc cưới xin vẫn giữ ba thủ tục là: dạm hỏi, lễ hỏi và lễ cưới. Ngày nay, trong lễ cưới, cô dâu không còn phải mặc bộ áo đỏ, có khăn che mặt để chú rể lấy cây giở khăn lên nữa.

Tang ma của người Hoa là địa táng, không hỏa táng.

Trong cộng đồng người Hoa, chữ viết cùng những sinh hoạt tín ngưỡng và đạo lý uống nước nhớ nguồn luôn được chú trọng giữ gìn, đề cao và tiếp nối.

2. Âm nhạc dân gian dân tộc Hoa xã Vĩnh Tân,
     huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng

 

2.1. Dân ca

Người Hoa ở Vĩnh Châu chủ yếu chỉ hát kể các tích truyện cổ trong lịch sử Trung Quốc như Bao Công xử án, Tiêu Tương (tên địa phương) thu vũ. Đặc biệt là Chuyện tình cô gái họ Tô là câu chuyện tình đầy bi thương của đôi trai gái thương yêu nhau nhưng cha mẹ muốn gả cô gái cho người giàu có, cô gái không chịu, bỏ đi trốn cùng người yêu. Với sức mạnh phi thường của tình yêu chân chính, họ đã vượt qua rào cản về quan niệm hôn nhân thời phong kiến, môn đăng hộ đối, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Trích đoạn này thể hiện sự đấu tranh nội tâm giữa chữ hiếu và chữ tình của cô gái.

2.2. Nhạc cụ

Âm nhạc trong nghi lễ tang ma là một trong những thể loại âm nhạc truyền thống độc đáo của người Hoa. Biên chế dàn nhạc chủ yếu là các nhạc cụ hơi và gõ với số lượng lớn. Nhóm nhạc cụ hơi có 3 kèn (tùa sua). Nhóm nhạc cụ màng rung có trống lớn (tùa cố). Nhóm nhạc cụ tự thân vang có 1 cồng đại (simpó), 1 phèng la (lò kía), 2 đôi não bạt (búa) và một dàn ló gồm 14 cồng không núm.

Ngoài ra, trong nhiều môi trường diễn xướng khác nhau như đám cưới, trong các cuộc vui lớn, người Hoa cũng sử dụng hình thức hòa tấu dàn nhạc. Biên chế dàn nhạc chủ yếu là các nhạc cụ dây và hơi có kết hợp với các nhạc cụ gõ có âm lượng nhỏ. Nhóm nhạc cụ dây, chi cung kéo có dì hí (đàn nhị), phá hí (đàn gáo), tùa phạ (hồ đại). Nhóm nhạc cụ dây, chi gẩy có xá hí (đàn sến). Nhóm nhạc cụ dây, chi gõ có iều khiếm (đàn 36 dây). Nhóm nhạc cụ hơi có hoài tết (sáo ngang). Nhóm nhạc cụ màng rung có cổ kia (trống nhỏ). Nhóm nhạc cụ tự thân vang có khéc (mõ), khèc (phách), 1 đôi triệu phang (phách gỗ nhỏ), búa (não bạt nhỏ), khìm kía (cồng nhỏ có núm), lò kía (phèng la nhỏ).

Qua thực tế khảo sát điền dã tại tỉnh Sóc Trăng, Viện Âm nhạc đã phối hợp với Sở Văn hóa - Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tỉnh Sóc Trăng triển khai kế hoạch mở lớp truyền dạy âm nhạc dân gian và nghệ thuật biểu diễn tại địa phương. Cụ thể, Viện Âm nhạc hỗ trợ về kinh phí, Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Sóc Trăng cử cán bộ trực tiếp tham gia xây dựng lớp truyền dạy, giám sát việc tổ chức tập luyện tại từng cơ sở. Kết quả đã mở được 4 lớp truyền dạy về cách trình tấu dàn nhạc của người Khơ me tại 4 địa điểm của 3 huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên và Kế Sách.

- Dàn nhạc trong lễ cưới của người Khơ me Nam Bộ: có 1 lớp do 1 nghệ nhân truyền dạy cho 7 học viên ở ấp An Khương, thị trấn Kế Sách, huyện Kế Sách.

- Dàn nhạc trong sân khấu Rô băm của người Khơ me Nam Bộ: có 1 lớp do 1 nghệ nhân truyền dạy cho 4 học viên ở ấp Bâng Chông, xã Tài Văn, huyện Mỹ Xuyên.

- Dàn nhạc Ngũ âm của người Khơ me Nam Bộ: có 2 lớp; một lớp tại chùa Tra Tim ở ấp Tân Kiên, xã Đại Tân, huyện Mỹ Xuyên do 1 nghệ nhân truyền dạy cho 7 học viên nam; một lớp tại chùa Xẻo Cốc, xã Lai Hòa, huyện Vĩnh Châu do 1 nghệ nhân truyền dạy cho 8 học viên nữ.

 

TM KẾT

 

Qua khảo sát, sưu tầm tại một số xã thuộc 3 huyện Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu và Kế Sách của tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi nhận thấy âm nhạc dân gian còn được người dân của hai dân tộc Hoa và Khơ me sử dụng trong nhiều sinh hoạt khác nhau của cuộc sống như: đám cưới, đám ma, lễ hội, những ngày vui chung của toàn cộng đồng. Kết quả đoàn công tác Viện Âm nhạc đã thu thanh, ghi hình được nhiều bài dân ca, độc tấu nhạc cụ, hòa tấu dàn nhạc Ngũ âm và một vài trích đoạn trong sân khấu Dù kê, Rô băm, cùng toàn bộ hệ thống bài bản âm nhạc trong lễ cưới của người Khơ me. Với người Hoa, đoàn cũng thu được một số trích đoạn hát kể truyện tích cổ và nhiều bản hòa tấu dàn nhạc sử dụng trong đám cưới và đám ma của người Hoa.

Tuy nhiên vẫn có tình trạng một số nhạc cụ của người Khơ me như: đàn chà pây, đàn sa điêu (đàn một dây), sáo pầy o, kèn slêi pin piếc (thân là một khối gỗ liền), đàn trô khes bây (giống đàn nhị có ba dây) đến nay không còn người biết sử dụng. Các nhạc cụ này chỉ còn thấy trưng bày tại bảo tàng của tỉnh hoặc trong các nhà truyền thống ở một số chùa.

Có thể nói, đây cũng là tình trạng chung đang xảy ra ở nhiều dân tộc ít người khác, khi mà các làn điệu dân ca và các nhạc cụ dân gian đang dần bị mai một, không còn được sử dụng nhiều nữa. Cho nên việc sưu tầm, lưu giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống là hết sức cấp thiết. Thông qua kết quả các lớp truyền dạy âm nhạc dân gian tại địa phương, chúng tôi mong rằng dự án có sự quan tâm, đầu tư chiều sâu hơn nữa cho việc truyền dạy. Và không chỉ lưu giữ trong kho, những giá trị nghệ thuật này cần phải được bảo tồn ngay trong chính cộng đồng, truyền dạy cho lớp thanh niên, phát triển bằng nhiều cách. Hy vọng việc thực hiện dự án sẽ khích lệ được phần nào không chỉ người dân mà cả chính quyền địa phương ý thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn, duy trì vốn âm nhạc dân gian truyền thống quí giá của hai dân tộc Khơ me và Hoa của tỉnh Sóc Trăng.

 

Tài liệu tham khảo

 

1. Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Tập I (1930-1975), 2007.

2. Về sân khấu truyền thống Khơ me Nam Bộ. Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Sóc Trăng và Phân viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, 1998.

3. Người Hoa ở Nam Bộ. Ngô Văn Lệ, Nguyễn Duy Bính. Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2005.

4. Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khơ me Nam Bộ. Nhà xuất bản tổng hợp Hậu Giang, 1988.

5. Băng phỏng vấn nghệ nhân trong đợt điền dã tại huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, tháng 3 năm 2007.

 

 

 



[1]. Ngô Văn Lệ, Nguyễn Duy Bính: Người Hoa ở Nam Bộ. Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2005.

Thêm một trao đổi