01-04-2014, 10:16

ĐIỀN DÃ, SƯU TẦM ÂM NHẠC DÂN GIAN
DÂN TỘC KHÁNG, LA HA, THÁI TẠI TỈNH SƠN LA

(Thuộc chương trình Dự án “Hỗ trợ văn hóa Việt Nam vì sự phát triển
bền vững 2005-2009” do Quỹ SIDA - Thụy Điển tài trợ)

       TS NGUYN BNH ĐNH - NCS T QUANG ĐNG

 

 

                            Chỉ đạo dự án:   PGS-TS Lê Văn Toàn - Viện trưởng Viện Âm nhạc   

                       Chủ nhiệm dự án:   TS Nguyễn Bình Định - Phó Viện trưởng Viện Âm nhạc

                      Nhóm nghiên cứu:   TS Nguyễn Bình Định - NCS Tạ Quang Động

                                  Thu thanh:   Nguyễn Anh Dũng, Ngô Đức Lưu

                                    Đạo diễn:   Nguyễn Kha

                                 Quay phim:   Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Quốc Hân

                                 Dựng phim:   Nguyễn Trần Khánh

                                   Chụp ảnh:   Nguyễn Ngọc Long

                 Kỹ thuật trường quay:   Đinh Việt Thắng, Nguyễn Trọng Anh

                                     Hậu cần:   Phạm Minh Quyết

 

Thời gian điền dã, sưu tầm:
Từ ngày 15/02/2009 đến 01/3/2009.

Các dân tộc và địa điểm khảo sát:

- Dân tộc Kháng ở bản Đán Đăm 2, xã Chiềng Ơn,
huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.

- Dân tộc La ha ở xã Nậm Păm, xã Pi Toong,
huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Dân tộc Thái trắng ở xã Mường Chiên (còn gọi là Mường Chiềng) và xã Mường Giàng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.

- Dân tộc Thái đen ở bản Tủm, xã Chiềng Khoi, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

 

NGƯI KHÁNG BN ĐÁN ĐĂM 2, XÃ CHING ƠN,
HUY
N QUNH NHAI, TNH SƠN LA

1. Đời sống văn hóa, xã hội

Dân tộc Kháng có khoảng 4.000 người, chủ yếu sinh sống ở tỉnh Sơn La và Lai Châu. Bản Đán Đăm 2[1] xã Chiềng Ơn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La là nơi cư trú tập trung của người Kháng.

Người Kháng có tên gọi khác là Xá khao, Xá xúa, Xá đón, Xá dâng, Xá hộc, Xá ái, Xá bung, Quảng lâm. Họ tự nhận họ là tộc người Ba hang. Tiếng Kháng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.

Xã Chiềng Ơn, nơi sinh sống của 3 dân tộc: Kháng, Thái, Kinh, gồm 659 hộ. Riêng dân tộc Kháng có khoảng hơn 400 hộ. Bản Đán Đăm 2, xã Chiềng Ơn có 42 hộ, trong đó 41 hộ là người Kháng, 1 hộ là người Thái.

Xưa kia, người Kháng làm rẫy theo lối chọc lỗ tra hạt, chủ yếu là trồng lúa nếp, trồng ngô và đào củ mài trên rừng. Người Kháng ít trồng cây ăn quả vì họ sống du canh, du cư. Thuở ấy, họ cất nhà bằng tre, mái lợp bằng lá chuối rừng. Khi lá chuối úa vàng cũng báo hiệu đất không còn màu mỡ để canh tác nữa. Khi ấy họ di chuyển đến ở nơi đất mới. Ngày nay, người Kháng đã sống tập trung thành bản, làm nhà sàn bằng gỗ, lợp ngói chắc chắn như nhà sàn của người Thái. Đồng bào chăn nuôi trâu, lợn, gà là chủ yếu. Ngoài ra, có một số hộ nuôi ngựa, dùng ngựa để thồ hàng.

Người Kháng không biết dệt vải, chủ yếu làm nghề đan lát. Họ dùng những sản phẩm này làm vật trao đổi hàng hóa với các dân tộc quanh vùng và đổi lấy quần, áo, váy của người Thái để mặc. Tuy nhiên, họ cũng sáng tạo ra những đặc điểm khác so với người Thái, chẳng hạn, họ trang trí thêm 2 dải hoa văn từ vai xuống trước ngực trên chiếc áo của phụ nữ Kháng. Trang phục của họ tương tự với trang phục của người Thái.

Thanh niên nam nữ Kháng khá tự do trong việc tìm hiểu nhau. Khi đôi trai gái đã ưng ý nhau thì bố mẹ bên nhà trai sẽ tìm một người mối, đại diện cho nhà trai mang lễ vật sang nhà gái dạm ngõ. Tiếp đến là lễ ăn hỏi, lễ cưới xin ở rể, lễ cưới về nhà chồng, lễ lại mặt.

2. Âm nhạc dân gian

Bà Lò Thị Phấu (nghệ nhân, Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Chiềng Ơn) cho biết, trước đây âm nhạc và múa dân gian của người Kháng khá phong phú và phổ biến nhưng bây giờ đã mai một nhiều. Lớp trẻ bận rộn việc đi học, đi làm, đi công tác nên ít có thời gian quan tâm đến vốn âm nhạc cổ truyền của dân tộc. Những người hát được dân ca, chơi được nhạc cụ của người Kháng chủ yếu là lớp người ở độ tuổi trung niên trở lên còn lớp trẻ thì chỉ biết múa.

2.1. Dân ca

- Hát trong lễ hội Pang á: Lễ hội Pang á là lễ hội lớn nhất của người Kháng. Lễ hội này thường được được tổ chức vào tháng 10, sau thời kỳ thu hoạch. Lễ hội Pang á do thầy mo đứng ra tổ chức tại nhà riêng. Khi ấy thầy mo cử người trong gia đình đi mời những người bị ốm đau đã được ông chữa trị cho khỏi bệnh đến dự lễ hội. Những người này được gọi là con nuôi của thầy mo. Khi đến lễ hội các con nuôi phải mang theo lễ vật. Nếu con nuôi là người ốm nặng thì lễ vật phải mang theo là 1 con lợn, 1 vò rượu, 1 chai rượu. Nếu con nuôi là người ốm bình thường thì lễ vật mang theo chỉ là 1 con gà, 1 chai rượu và 1 sải khăn đến để múa. Ngoài những bệnh nhân đến tạ ơn thầy mo còn có rất nhiều người từ bản gần, bản xa cũng về dự lễ hội.

Bà Lò Thị Phấu kể rằng: “Khi biết tin bản nào tổ chức lễ hội Pang á thì cho dù họ đang ở xa xôi, đang phát nương, rẫy cỏ, họ cũng bỏ cuốc, bỏ dao để đến với lễ hội. Bởi vì lễ hội này rất vui và đây cũng là dịp để thanh niên nam nữ gặp nhau hát múa giao duyên, tỏ tình”.

Đêm hội, trai gái tỏ tình với nhau bằng những khúc hát đối đáp. Lời hát được ngẫu hứng tùy theo diễn biến tình cảm của hai bên nam nữ, tùy theo hoàn cảnh, khung cảnh cụ thể, mà người ta hát ứng tác cho phù hợp. Cuộc hát kéo dài đến gần sáng mới chia tay nhau ra về.

Lời hát có đoạn:

Từ bản gần bản xa

Cùng nhau đến xòe Pang á

Chớ để dứt tiếng trống, tiếng chiêng

Cùng nhau hát giao duyên

Đến tờ mờ sáng mới về

Ai ơi hãy nhớ đừng quên nhé

Cho dù ta có đi đâu

Tâm hồn ta linh cảm rằng mãi mãi bên nhau

Rồi lễ hội năm sau ta lại gặp gỡ

Chớ vội quên nụ cười

Chớ vội quên ánh mắt đêm nay

Ai ơi, cho dù hạnh phúc bao nhiêu

Hãy nhớ mãi không quên đêm hội Pang á này.

Xòe (múa) trong lễ hội Pang á có 4 điệu và được đệm bằng âm nhạc của trống, chiêng, cơ dơng và bẳng ỏng tệnh (dỗ ống).

- Hát Tang Lo: Tang Lo là bài hát cổ kể về câu chuyện tình dang dở của đôi trai gái. Họ yêu nhau nhưng không lấy được nhau nên người đi lấy vợ kẻ đi lấy chồng nhưng tình cảm, tâm hồn của họ vẫn dành cho nhau. Vì vậy, mỗi khi nghe tiếng hót buồn bã của con chim Tang Lo, họ lại nhớ đến nhau. Họ nghĩ rằng người yêu đã chết và biến thành con chim Tang Lo bay về để tâm sự. Khi ấy họ gác mọi chuyện để hát đối với con chim Tang Lo: 

Chim ơi! Giữa bầu trời đầu xuân đẹp

Chim bay từ phương nào đến đây

Sao giọng chim buồn thế!

Chim có phải hồn người mà tôi yêu quý năm xưa?

Nếu phải thì hãy hót mãi nghe chim

Kể lại những tháng năm của tuổi còn son ấy

Ông trời không xe duyên thành lứa, thành đôi vợ chồng

Hôm nay đây, tại nơi này chỉ mỗi mình tôi

Chim hãy hót và hót mãi nghe chim

Khi nào chim hót mệt, chim hãy bay đi

Và mong chim giữ lời hứa năm xưa mà hai ta đã hò hẹn

Cho dù đi ở phương trời nào

Cho dù sống hay chết

Lời hẹn đó ta sẽ không quên, phải vậy không chim?

Hãy trả lời ta đi

Chim ơi sao buồn thế!

Ước gì ta hóa thành chim

Cùng chim bay đến phương trời nào đó để xây tổ ấm

Nhưng giờ đây quá muộn rồi phải không chim?

Chính tiếng hót này người không còn sống nữa phải không?

Chỉ là linh hồn đến chào vĩnh biệt?

Thì tôi xin viếng người bằng tiếng hát tiễn đưa

Tôi xin mang cả tâm hồn năm xưa đến viếng người

Hẹn kiếp sau gặp lại, sẽ đem hạnh phúc trọn đời nghe chim.

- Hát ru:                                   

Bố mẹ đi nương đi rẫy         

Ông ở nhà trông con

Cho bố mẹ yên tâm đi làm

Ông bà ở nhà có việc nhà việc cửa

Ru con ngủ, con ngủ cho ngon

Để ông bà làm các việc trong nhà, quét dọn

Nấu cơm nấu canh chờ bố mẹ đi nương đi rẫy

Bố mẹ về con mới dậy đón mẹ đón bố

Bố mẹ về mang hoa quả về cho con.

- Hát giao duyên: Khi tỏ tình, nam nữ thanh niên Kháng thường dùng lời ca tiếng hát để thể hiện tình cảm của mình. Họ hát ở mọi nơi, mọi chỗ, hát khi đi làm nương, khi đi chợ, khi đến lễ hội, khi đi chơi buổi tối.

Bà Lò Thị Phấu kể rằng: “Mang tiếng đi làm nương, làm rẫy nhưng khi lên đồi trai gái gặp nhau là hát đối đáp trêu nhau, tán nhau có khi chẳng được nhát cuốc nhát xẻng nào”.

Thời điểm hát giao duyên nhiều nhất là vào khoảng tháng 9, tháng 10, khi mùa màng đã gặt hái xong, mọi người đều nhàn rỗi. Vào những đêm trăng sáng, đẹp trời, thanh niên nam nữ tổ chức vui chơi ở dưới sân nhà một cô gái nào đó. Nam nữ hát đối đáp giao duyên với nhau đến khoảng nửa đêm. Nếu đôi trai gái nào yêu nhau, cô gái sẽ rủ người mình yêu lên nhà chơi và cùng nói chuyện. Sau đó, người con gái xin phép người yêu đi ngủ trước và người con trai cứ ngồi đó chơi thêm một lúc rồi trốn bố mẹ người yêu để vào chỗ ngủ của người con gái và tâm sự đến 2 -3 giờ sáng người con trai mới trở về nhà mình.

Thí dụ hai khổ đối đáp nam, nữ:           

Nam hát:

Tôi ở xa nhìn thấy lửa,

ở xa nhìn thấy nước.

Nhìn thấy áo chàm đen, lòng muốn mặc

Nhìn thấy người má hồng, lòng muốn hỏi thăm.

Nữ hát:

Hôm nay, giờ đẹp, ngày đẹp mới gặp anh

Ta gặp nhau thì vui chơi với nhau

Nếu anh có vợ rồi thì xin nói chuyện với chồng người khác

Đừng để cho vợ anh biết, vợ anh sẽ đánh, sẽ chửi em…

2.2. Nhạc cụ

Theo lời của các nghệ nhân thì người Kháng có các nhạc cụ như trống, chiêng, pí tam lay, biếng tóng (đàn môi), cơ dơng, bẳng ỏng tệnh nhưng tại thời điểm khảo sát thì trong bản không còn một nhạc cụ nào. Mặc dù, chúng tôi đã tạo điều kiện để cho nghệ nhân phục hồi lại nhạc cụ nhưng họ cũng chỉ phục hồi được 2 loại nhạc cụ đó là: cơ dơng và bẳng ỏng tệnh.

- Cơ dơng có cấu tạo tương tự như nhạc cụ đao đao của người Khơ mú. Cơ dơng được làm từ một ống nứa có đường kính khoảng 3,5 cm, dài khoảng 60 cm. Cơ dơng là nhạc cụ gõ, chủ yếu do con gái sử dụng. Cơ dơng có thể dùng để độc tấu, hòa tấu với biếng tóng hoặc làm đạo cụ, nhạc cụ đệm cho điệu múa của người Kháng.

- Bẳng ỏng tệnh được làm từ một ống tre có đường kính khoảng 5 cm, chiều dài khoảng 110 cm. Đầu mặt dưới cùng của ống tre được giữ lại còn các đầu mặt trong lòng ống được đục thủng để tạo cột hơi. Khi chơi, người diễn tấu cầm vào phần trên của ống nứa và dỗ phần có đầu mặt xuống một tấm gỗ. Nhạc cụ này chỉ được sử dụng để hòa tấu cùng với trống chiêng trong điệu múa của người Kháng.

Còn các nhạc cụ khác, chúng tôi chỉ có thể mô tả theo lời kể của nghệ nhân:

- Biếng tóng (đàn môi) là loại nhạc cụ bằng đồng nhỏ và dùng khoang miệng để điều chỉnh âm thanh, nhưng cách chơi đàn môi của người Kháng không giống với cách chơi đàn môi của một số tộc người sống ở vùng Tây Bắc, Việt Nam. Chẳng hạn, người Hmông và người Thái dùng ngón tay cái gảy trực tiếp vào một đầu của nhạc cụ còn người Kháng sử dụng một sợi dây để kéo (một đầu dây buộc vào nhạc cụ, một đầu quấn vào tay để kéo).

- Trống, chiêng, pí tam lay của người Khángcó cấu tạo tương tự như của người Thái.

 

 

NGƯI LA HA
B
N NÀ TY, XÃ PI TOONG  VÀ BN HUI LING
X
à NM PĂM,  HUYN MƯNG LA, TNH SƠN LA

 

 

1. Đời sống văn hóa, xã hội

ở nước ta, người La ha có khoảng 1400 người, cư trú tại tỉnh Sơn La và tỉnh Lào Cai. ở tỉnh Sơn La, người La ha cư trú đông nhất là ở huyện Thuận Châu và huyện Mường La. Đồng bào có tên gọi khác là Xa khắc, Phlắc, Khlá. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Kađai.

Người La ha sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy, theo lối du canh, hái lượm, săn bắn và đánh bắt cá. Ngày nay, đồng bào La ha đã làm ruộng, cư trú thành bản với vài chục nóc nhà. Cây trồng chủ yếu là lúa nếp, lúa tẻ, ngô, sắn, đậu tương, bông. Chăn nuôi có trâu, bò, lợn, gà.

Huyện Mường La có 4 bản hầu như đều là người La ha. Trong đó, bản Nà Tạy, xã Pi Toong và bản Huổi Liếng, xã Nậm Păm, huyện Mường La, tỉnh Sơn La có nhiều nghệ nhân âm nhạc dân gian. Bản Nà Tạy có 35 hộ đều là người La ha, chỉ có vài hộ là có vợ hoặc chồng là người dân tộc khác. Bản Huổi Liếng có 31 hộ với 154 người hoàn toàn là người La ha.

Người La ha chỉ nói tiếng La ha ở trong bản, còn khi ra ngoài thường giao tiếp bằng tiếng Thái. Trẻ em La ha khi đến trường học phổ thông hầu như đều nói tiếng Thái (thậm chí có em không muốn người khác biết mình là người La ha).

Phụ nữ La ha không biết dệt vải, họ chỉ trồng bông và đem bông hoặc các hàng hóa khác trao đổi lấy quần áo, váy của người Thái để mặc. Tuy nhiên cũng có sự thay đổi như áo được trang trí thêm một số nẹp, viền so với áo cóm của người Thái.

Nhà ở được cấu trúc theo kiểu nhà sàn của người Thái đen. Trước đây mái thường lợp bằng gianh. Hiện nay được thay thế bằng ngói hoặc tấm lợp.          

Nam nữ thanh niên La ha được tự do tìm hiểu nhau, không bị cha mẹ ép buộc cưới gả, tuy nhiên, việc cưới gả phải được cha mẹ ưng thuận. Sau lễ dạm hỏi, nhà gái chia trầu dạm hỏi của nhà trai cho họ hàng để hỏi ý kiến. Ai không đồng ý thì trả lại trầu. Trong 5 ngày nếu nhà gái không trả lại trầu cho nhà trai có nghĩa là nhà gái đồng ý và nhà trai tổ chức lễ xin ở rể và chàng trai phải ở rể từ 4 đến 12 năm tùy theo sự thỏa thuận của 2 gia đình. Hết hạn đó, lễ cưới mới được tiến hành, cô dâu được về ở nhà chồng. Trong đám cưới có hát đối đáp giữa hai bên gia đình. Ngày nay, tục ở rể không còn bắt buộc nhưng nếu ở rể thì nhà trai chỉ cần mang ít đồ lễ, còn nếu không ở rể thì nhà trai phải mang nhiều đồ lễ hơn, có nghĩa là trong đó bao gồm số tiền phải đóng cho nhà gái thay cho 12 năm không ở rể.

   Theo phong tục làm ma của người La ha, người chết được chôn theo một số vật dụng cần thiết. Trên huyệt người ta dựng một cái nhà mồ. Trong nhà mồ người ta đặt một số vật dụng cho người chết như giỏ cơm, quần áo, chăn đệm. Chôn cất xong, về tới nhà, người ta làm thủ tục xua đuổi tà ma bằng cách lấy cây cối, củi đập để ma không quấy phá gia đình. Trong đám ma có những bài hát dành riêng cho người chết.

Trong năm, người La ha có hai lễ hội chính là lễ hội cầu mưa và lễ mừng được mùa. Lễ hội cầu mưa thực hiện vào tháng 4 dương lịch trước khi trồng cấy. Lễ này đến nay vẫn được tổ chức. Thông lệ, vào ngày lễ các chủ hộ tập trung ở nhà ông trưởng bản, khi đi mỗi người phải mang theo 1 con gà làm lễ vật. Sau đó họ mời thầy cúng đến làm lễ. Lễ cầu mưa tổ chức ở ngoài trời. Mâm lễ cúng có 1 con lợn khoảng 30 kg, và 1 con gà. Lễ mừng được mùa thực hiện sau vụ thu hoạch. Mỗi hộ làm một chum rượu cần với 2 chai rượu để ăn mừng. Gia đình nào cũng tổ chức và mời những người thân thiết, họ hàng tới chung vui. Trong lễ có hát chúc nhau, hát mừng được mùa


2. Âm nhạc dân gian

2.1. Dân ca

Ngày nay, khi nghe người La ha hát dân ca, ta có thể phát hiện ra những nét tương đồng với dân ca Thái. Thậm chí có những người La ha thích hát dân ca Thái hơn là hát những làn điệu dân ca của chính dân tộc họ. Hiện tượng này không chỉ xảy ra đối với người La ha mà còn xảy ra đối với nhiều dân tộc ít người khác ở Tây Bắc như người Kháng, Xinh mun, Khơ mú v.v... Hiện nay, những người hát được dân ca La ha rất hiếm, chúng tôi chỉ sưu tầm được 2 bài dân ca thực sự là của người La ha, đó là các bài Ma ha ma hỡi ha U lạc.

- Ma ha ma hỡi ha: là điệu hát khi đi lên rẫy phát nương. Nội dung lời ca do nghệ nhân Lò Văn Pháng - 65 tuổi, bản Nà Tạy, xã Pi toong, huyện Mường La hát:

Bà con anh em trong bản ơi

Gà gáy trời sắp sáng rồi

Hãy dậy để nấu cơm

Vợ gói cơm cho vào túi vải

Những người đàn ông, con trai hãy mài dao cho sắc

Để lên rẫy phát nương

Chúng ta đến nương rồi

Chúng ta chuẩn bị phát nương

Chặt cây, chúng ta chặt cho kỹ, cho ngay

Chúng ta phát xong rồi

Đến trên đầu đỉnh núi

Chúng ta quay xuống thì chúng ta phải đè cho kỹ

Khi đốt nương thì nó mới cháy tốt

Các con, các cháu chúng ta vào chỗ lều

Chúng ta tập trung để ăn cơm.

Nghỉ ngơi ăn cơm xong rồi chúng ta lại phát tiếp

Xong lần này chúng ta mới nghỉ về nhà

Đi xuống suối tắm giặt, bắt cá

Khi về đến nhà

Ăn cơm tối xong

Thanh niên trai gái trong bản

Ai có khèn, pí thiu, pí tam tặn, tam lay

Thì chúng ta hãy mang ra

Chỗ ngoài sân, trăng sáng để vui chơi, múa hát

Rồi chuẩn bị cho ngày mai,

Ngày khác chúng ta lại tiếp tục lên phát nương nữa.

- U lạc là điệu hát ru con của người La ha. Nội dung lời ru do nghệ nhân Quàng Thị Toản sinh năm 1969 bản Huổi Liếng, xã Nậm Păm hát:

Mẹ sẽ dậy nấu cơm xong rồi

Mẹ sẽ đi làm nương

Làm nương xong rồi

Mẹ mới về nhà cho con ăn bú

Mẹ sẽ đi xúc cá, xúc tôm

Con ở nhà chơi ngoan,

Ngủ với ông với bà

Với chú với cô

Mẹ đi làm nương

Mẹ lấy quả dưa, quả vả, quả dâu da

Con ở nhà, con đón mẹ, chờ mẹ

Cả mẹ cả bố đi làm về con mới được ăn.

 

2.2. Nhạc cụ

Hiện nay, người La ha ở hai bản Nà Tạy và Huổi Liếng, chỉ còn có thể làm và chơi được các nhạc cụ như: pơi lôi, kén thiu, pơi lót, pí tam tặn, pí một lao.

-  Pơi lôi là loại sáo thổi dọc, chi lưỡi gà rung tự do, có cấu tạo tương tư như pí pở của người Thái đen. Lưỡi gà được làm bằng bạc. Phía đầu sáo gắn lưỡi gà có mấu kín còn đầu kia rỗng. Pơi lôi gồm 6 lỗ bấm tạo cao độ (1 lỗ dưới và 5 lỗ trên).

 

Chiều dài của pơi lôi là 37,5cm, đường kính lòng ống là 0,9cm.

A: Lưỡi gà - B, C, D, E, F, G: Lỗ bấm tạo cao độ - H: Lỗ thoát âm

Pơi lôi do nam giới sử dụng khi đi chơi nhà bạn gái vào ban đêm. Theo phong tục, con trai muốn đánh thức con gái dậy để tỏ tình, để nói chuyện với mình thì phải thổi pơi lôi hay kén thiu để gọi người yêu. Do vậy mà các chàng đều phải học để có thể thổi được một trong hai loại nhạc cụ này. Đến nay, tục lệ này không còn được duy trì, do vậy nên cả bản chỉ còn vài ba người ở tuổi trung niên và cao niên biết thổi nhạc cụ này.

- Kén thiu là nhạc cụ hơi thổi, chi lỗ vòm. Nhạc cụ gồm có 1 lỗ thổi và 4 lỗ bấm cao độ. Chiều dài của toàn bộ nhạc cụ là 88cm, đường kính trong lòng ống 1,5 cm. Với chiều dài và đường kính như vậy, kén thiu có âm hưởng trầm ấm.

Kén thiucó 2 làn điệu: làn điệu thổi chậmlàn điệu thổi nhanh. Làn điệu thổi chậm được sử dụng khi chàng trai tới gần chân cầu thang nhà cô gái với ý nghĩa mời cô gái dậy cùng nói chuyện với mình. Giai điệu của kén thiu thường dựa trên một bài hát của người La ha, chẳng hạn như:

Dậy đi em dậy đi,

Mặt trăng sắp khuất sau núi rồi

Sao em nỡ để mình anh đứng đội sương phơi gió thế này…

Khi đôi trai gái xuống thang để cùng đi dạo chơi, chàng trai thổi kén thiu theo làn điệu thổi  nhanh.

- Pơi lót (ống nứa nối) là nhạc cụ hơi thổi, chi lưỡi gà rung tự do. Lưỡi gà được tách ra từ chính thân ống sáo. Thân ống có chiều dài 106 cm, đường kính trong lòng ống 0,8 cm. Pơi lót là loại sáo dài nhất của người La ha. Âm thanh của cây sáo này rất trầm. Sáo có 2 lỗ bấm để tạo cao độ.

Pơi lót thường được làm bằng một loại nứa nhỏ, già, dóng dài. Pơi lót thường được chế tác tại chỗ khi cần sử dụng và thường chỉ sử dụng trong 1-2 ngày. Bởi vì khi cây nứa khô đi âm thanh không còn hay nữa.

Pơi lót là nhạc cụ dùng chơi trên nương rẫy, hoặc dùng để thổi vui vào những đêm sáng trăng. Người ta chơi pơi lót nhiều nhất khi lúa trên nương vào độ chín vàng (vào khoảng tháng 9 âm lịch). Ngoài ra, pơi lót cũng có thể dùng để độc tấu hoặc đệm cho hát. Đây là nhạc cụ mà nam giới và nữ giới đều có thể sử dụng.

- Pí tam tặn là nhạc cụ hơi thổi, chi lưỡi gà rung tự do. Lưỡi gà được tách ra từ một đầu của thân ống sáo. Người La ha làm pí tam tặn bằng loại nứa nhỏ hoặc ống rơm. Trên thân sáo có khoét 3 lỗ bấm tạo cao độ. Pí tam tặn thường do con gái sử dụng và nó được chơi nhiều vào mùa lúa chín. Pí tam tặn chủ yếu sử dụng để độc tấu, ít khi sử dụng để đệm cho hát.

- Pí một lao là nhạc cụ do nam giới sử dụng trong các lễ cúng của thầy mo như cúng chữa bệnh hoặc lễ hội mừng xuân. Trong lễ cúng, pí một lao là nhạc cụ duy nhất dùng để đệm cho thầy mo hát.

 

 

DÂN TC THÁI SƠN LA

 

 

1. Đời sống văn hóa - xã hội

Dân tộc Thái là cộng đồng đông dân nhất ở Sơn La, chiếm 54% dân số, gồm các nhóm Tay đăm (Thái đen) và Tay khao (Thái trắng). Tiếng Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Người Thái ở nhà sàn, mỗi bản thường có khoảng 40-60 nóc nhà.

Người Thái có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, bắc máng lấy nước làm ruộng cấy lúa. Lúa nếp là nguồn lương thực chính. Tuy nhiên, người Thái cũng trồng lúa nương, hoa màu và nhiều thứ cây khác. Họ cũng nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải, một số nơi làm đồ gốm... Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp.

Những năm gần đây, nam giới Thái mặc Âu phục là phổ biến, nhưng nữ giới vẫn gắn bó với bộ áo, váy, khăn piêu cùng lối trang sức truyền thống của dân tộc.

Người Thái có tục ở rể. Sau khi cưới, người chồng phải ở lại bên nhà vợ đôi năm, tới khi có con mới về ở bên nhà chồng. Ngày nay, tục này không còn phổ biến. Trừ trường hợp bên nhà gái hoàn cảnh quá khó khăn thì tục lệ này mới được thực hiện.

Dân tộc Thái có ngôn ngữ, chữ viết riêng; có kho tàng thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao là vốn văn học cổ truyền nổi tiếng. Đồng bào Thái rất yêu âm nhạc và xòe (múa). Họ có nhiều loại nhạc cụ, nhiều làn điệu dân ca và nhiều điệu xòe nổi tiếng.

2. Âm nhạc dân gian dân tộc Thái trắng
    (bản Hé, xã Mường Chiên (Mường Chiềng) và bản Nghé Toỏng
     xã Mường Giàng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La)

2.1. Dân ca       

Người Thái trắng ở bản Hé thường sử dụng một số làn điệu như khắp Then, khắp Báo sao, Sao sên, khắp ú lụ, Loong te.

- Khắp Then thường được trình diễn theo hai lối: một lối dùng tính tẩu đệm cho hát (không có múa), còn một lối dùng tính tẩu đệm cho nghệ nhân vừa hát, vừa múa. Khi hát không múa họ có thể sử dụng làn điệu khắp Then để thể hiện nhiều nội dung lời ca khác nhau như Hát với người yêu, Dạy dỗ con cháu

   Ví dụ lời ca bài Hát với người yêu:                

Vào tháng một, hai, ba

Hoa gạo, hoa ban, đỏ trắng rừng

Bốn phương trời đều có tình yêu

Không ngờ anh thấy gió Lào tháng ba

Ngồi một mình đợi chờ không thấy

Ngày đêm lòng luôn nhớ người ơi

Lúc đêm ngủ mơ màng

Ngồi tỉnh dậy mà ngỡ bóng ai

Nhìn lên trời thấy ngàn ánh sao

Thấy ánh sao nhưng không bao giờ với tới

Lòng mơ thành sợi tơ tằm nhuộm tình không phai

Tình thương yêu như chân kìm[2], đôi đũa

Mong ông trời làm khuôn đúc thành đôi

Đúc hai người cùng chung một kén

ở bên em, anh hết phiền lo

Cuộc đời có số có đôi

Gặp khó khăn, giông bão không phai

Dù ai có nói gì cũng không thay lòng đổi dạ.

Khi hát múa, thường có 1 thầy mo và 8 nữ múa, tay phải mỗi người múa đeo một chùm ma hính (quả nhạc). Khi múa, tiếng ma hính rung reng theo động tác và tiết tấu của bài ca làm cho điệu múa có đặc điểm rất riêng.      

- Khắp Báo sao là điệu hát giao duyên nam nữ. Lời ca phóng túng, tùy hoàn cảnh cụ thể mà đôi trai gái có thể vận dụng cho phù hợp. Khi hát trên nương rẫy, họ mượn cỏ, cây, hoa, lá…; khi hát ban đêm, họ mượn hình ảnh ánh trăng ánh sao, ánh lửa, gà gáy để thể hiện tình cảm của mình. Những bài hát đối đáp này thường rất dài, có thể kéo dài từ chập tối đến đêm khuya.

Dưới đây là một đoạn trích trong những bài hát đó:     

Nam hát:           

Từ xa nhìn thấy bóng lửa hồng

Nhìn thấy người mặc áo màu đen

Nhìn thấy người anh muốn hỏi thăm

Muốn kết bạn, kết duyên đôi lứa.

Nữ hát:  

Người yêu ai đã lạc đến đây

Bông hoa trắng ai rơi vào vườn hoa đỏ

Bông hoa đỏ ai rơi vào vườn mía

Mặt son trắng đang đợi chồng ai ơi!…

Nam hát:           

Thuyền đứt (neo) mà không có ai kéo giúp vào bờ

Người nghèo khó không có ai yêu

Người khốn khổ không có ai đợi ai chờ

Không ai thèm nói chuyện ai ơi!        

Nữ hát:  

Hợp duyên hai bên cùng nhau xây dựng

Cùng đắp đập dẫn nước vào mương

Nước vào mương cho dân mường gieo mạ

Anh cầm xẻng, em sẽ cầm mai

Em cầm dao, anh sẽ lái cầy khai phá

Sức hợp từ phương trời xa sẽ thành đôi. 

- Khắp Sao sên thường được người già hát. Khi hát có đệm tính tẩu 2 dây lên cách nhau quãng 5.

Khắp Sao sên bài Thánh hiền (dạy dỗ con cháu):

Đời người như rừng cây

Đời người như bông hoa             

Bông nối cành nối lá mọc hoa

Bông héo rụng xuống, bông khác mọc lên

Đời người dưới quyền thần thánh

Truyền xuống cho có thấp, có cao

Cho có quyền, có chức.                   

Con người, động vật, thực vật chỉ có một đời mà thôi

Yêu thương nhau không đánh chửi nhau

Như anh em cùng cha cùng mẹ

Có việc gì tốt xấu

Không được coi thường, ác hại về nhau

Hãy vứt bỏ cái nghề oan ức, tham lam

Suốt đời đừng nói bừa, gian ác.

Lời nói này phải chăm phải học

Hàng năm, hàng tháng phải xem, phải nhớ

Lúc qua đời còn nhớ còn thương

Vì có chuyện thánh hiền dạy loài người

Kiêng ba năm, ở lâu có phúc

Đừng ăn trộm, trèo leo, nói chày, nói bửa

Phụ nữ giỏi hai việc trong nhà:

Dệt vải và trông bố mẹ già hai bên.

Phụ nữ có hai chồng trời phạt, trời đánh.

Ôi sao buồn thế vì hàng năm thêm tuổi

Lời nói này trời đã định ra

Hạn chết này chẳng ai tránh được

Ai không nghe phép thánh hiền truyền lại

Ai cũng bỏ phép này hàng năm không nhớ

Chỉ biết hung hăng vô cớ

Thì suốt đời khổ mãi không thôi

Nhiều đời chỉ nối tiếp nhau như vậy

Nhiều đời nên học và nhớ ông cha truyền lại.

- Khắp ú lụ là điệu hát ru con của người Thái trắng. 

  Lời bài khắp ú lụ:        

Bố mẹ đi nương rẫy chưa về

Cháu ăn rồi cháu ngủ cho ngoan.

Con ở nhà con ngủ ngoan

Bố mẹ về sẽ có quà cho con

Có con cào cào, châu chấu, con ếch, con nhái về đón con

Có con gà nướng cho con ăn

- Khắp loong te: Khi con trai đang xuôi thuyền trên sông, nhìn thấy các cô gái hái rau bên bờ, họ dừng thuyền cất tiếng khắp Loong te hỏi han, chòng ghẹo. Nghe tiếng khắp, các cô gái đáp lời. Tùy thuộc vào tình cảm đôi bên mà họ ngẫu hứng ra những lời ca trao duyên vừa tinh tế ý nhị nhưng rất hồn nhiên, chất phác.

 

2.2. Nhạc cụ

Người Thái trắng ở bản Hé và bản Nghé Toỏng hiện chỉ thấy sử dụng 4 loại nhạc cụ: tính tẩu, pí pặp đôi, pí một lao và ma hính.

- Tính tẩu nghĩa là đàn có hộp cộng hưởng bằng vỏ quả bầu. Trước đây tính tẩu là nhạc cụ được sử dụng khá phổ biến nhưng hiện nay chỉ còn một số  người cao tuổi chơi được. Nghệ nhân Lò Văn Đoan (1952) được coi là nghệ nhân chơi hay và thuộc nhiều làn điệu nhất ở bản Hé và bản Nghé Toỏng. Ông học chơi tính tẩu năm 17 tuổi từ người bố của mình là nghệ nhân Lò Văn Mận - một nghệ nhân chơi tính tẩu nổi tiếng ở huyện Quỳnh Nhai. Ngoài khả năng chơi đàn, Lò Văn Đoan còn là nghệ nhân chế tác và truyền dạy tính tẩu. Ông làm đàn để tặng cho bạn bè, để bán cho những người có nhu cầu.

Theo ông, kích thước và cách làm tính tẩu như sau: “Để làm tính tẩu, phải chọn loại quả bầu già, tròn đều thì âm thanh mới hay. Cần đàn làm bằng một loại gỗ nhẹ không cong vênh, thường là cây tin tết (chân vịt), cây lát xoan hoặc cây dổi. Theo cách đo dân gian: Chiều dài cần đàn có kích thước bằng 9 nắm tay của người chơi đàn, làm như vậy cây đàn sẽ rất hợp với cỡ tay và giọng hát, nếu làm ngắn hơn thì tiếng đàn sẽ không vang. Trục lên dây cũng được làm bằng loại gỗ giống như gỗ làm cần đàn. Mặt đàn làm bằng loại gỗ xốp nhẹ có tên là mạnh tong. Mặt đàn được bào mỏng khoảng 2 mm. Trên mặt đàn và phía sau đáy đàn có khoét các lỗ  nhỏ để thoát âm và trang trí cho đẹp. Đầu đàn được tạo dáng giống hình mỏ chim vừa có tác dụng trang trí, vừa có tác dụng để móc đàn khi treo lên. Trước đây, dây đàn được làm bằng loại tơ tằm nhỏ, ngày nay thay thế bằng dây nylon.

Ngoài việc làm đàn, biểu diễn, ông còn chăm lo truyền dạy lại cho lớp trẻ. Ông kể rằng: “Vào những ngày vui, hội hè hoặc khi các cháu sang nhà chơi, tôi thường gảy đàn cho các cháu nghe, cháu nào thích chơi thì tôi chỉ dẫn, giúp đỡ. Trong bản cũng có một vài cháu chơi được một số bài đệm cho múa, còn những bài có kỹ thuật khó như tính doóng, loong te thì chưa cháu nào chơi được, các cháu còn phải học thêm nữa”.

Tính tẩu ngày xưa chỉ có 2 dây và có hai cách lên dây là quãng 4 và quãng 5, nhưng gần đây người ta lắp thêm một dây, thành tính tẩu 3 dây: 2 dây ngoài cách nhau quãng 8, dây giữa cách 2 dây ngoài quãng 4 hoặc quãng 5. Khi dùng để đệm cho hát, người ta sử dụng 2 dây, đôi khi đệm cho múa người ta mới sử dụng 3 dây .

Người Thái trắng sử dụng tính tẩu để độc tấu, hòa tấu, đệm cho một số làn điệu dân ca và đệm cho các điệu múa. Chức năng độc tấu phổ biến nhất của tính tẩu là dùng để đánh thức bạn gái dậy nói chuyện. Theo tục lệ, các chàng trai muốn gọi người mình yêu thì thường dùng cây tính tẩu gảy làn điệu Tính doóng từ đầu ngõ đến chỗ ngủ của người con gái. Cô gái nghe đúng tiếng đàn của người mình yêu thì sẽ dậy mở cửa mời vào nhà. Ngày nay, tục lệ này không còn được duy trì.

Trong những dịp vui của cộng đồng, người ta dùng 2 đến 3 cây tính tẩu hòa tấu với nhau hoặc hòa tấu tính tẩu với các nhạc cụ khác như xi xa lo (một loại đàn dây kéo tương tự như nhị), pí pặp đôi.

Với chức năng đệm cho hát, tính tẩu thường được sử dụng để đệm cho các làn điệu: Then, Loong te, Sao sên. Với chức năng đệm cho múa, tính tẩu đệm cho các điệu múa then, múa nón, múa quạt… Người Thái trắng có rất nhiều điệu múa, vì vậy mà cũng có số lượng bài bản tính tẩu tương ứng.

- Pí pặp đôi: nhạc cụ hơi, chi lưỡi gà rung tự do. Hiện nay, cả huyện Quỳnh Nhai chỉ còn có một mình ông Điêu Chính Pánh sinh năm 1938 biết thổi và làm loại nhạc cụ này. Ông cho biết kinh nghiệm làm pí pặp đôi: “Phải vào rừng chọn loại nứa nhỏ (tiếng Thái gọi là mạy pao) có đường kính khoảng 1 cm, mang về nhà phơi khô. Khi làm pí pặp đôi, đo hai gang tay rưỡi (khoảng 50 cm) để xác định chiều dài của pí. Pí gồm có 2 ống kích thước như nhau nhưng số lượng lỗ bấm trên từng ống thì có sự khác nhau. Hai ống gồm một ống nam (sảng tờ pô) và một ống nữ (sảng pún sao). ống nam chỉ có 1 lỗ bấm để tạo cao độ, còn ống nữ có 6 lỗ bấm tạo cao độ; ống nam có ý nghĩa phụ họa để đệm cho ống nữ hát[3]. Lam pí pặp đôi có thể được làm từ hai loại chất liệu đồng và bạc. Nghệ nhân thường sử dụng lưỡi gà bằng bạc vì nó tốt, bền và không hôi miệng như lam bằng đồng.

Xưa kia, nếu chàng trai nào biết thổi pí pặp đôi thì cũng đều sử dụng nhạc cụ này để đánh thức người con gái mà mình yêu thương dậy nói chuyện. Qua tiếng pí pặp đôi, người con gái cũng có thể đoán biết được đó có phải là người mình thích hay không. Tùy từng người thổi mà nội dung lời ca có khác nhau.

Thí dụ nội dung của một bài pí pặp đôi:           

Khuya rồi, nghĩ tới em nhiều quá

Nếu em thương anh thì hãy dậy ra ngoài sàn

Nếu thương nhau thì em hãy dậy để tỏ lời tâm sự…

Khi cô gái dậy và hai người cùng chơi ở ngoài sàn. Chàng thổi pí pặp đôi còn nàng thì hát, hát đến khuya mới chia tay nhau ra về.    

Pí pặp đôi còn được thổi khi đi chơi Hạn khuống. Hạn khuống (tiếng Thái: hạn là sàn, khuống là sân chơi) là từ dùng để chỉ một sân khấu ngoài trời có trang trí cầu kỳ, đẹp mắt. Đây là nơi diễn ra sinh hoạt hát giao duyên nam nữ của người Thái ở Tây Bắc. Sinh hoạt hát giao duyên thường diễn ra vào các buổi tối mùa thu khi thời tiết khô ráo. Tối đến, các cô gái lên sàn để quay tơ, dệt vải, thêu thùa… các chàng trai mang theo pí pặp đôi, tính tẩu đến chân Hạn khuống để chơi và hát đối đáp với các cô gái. Nếu đàn hay, hát đối đáp giỏi các cô gái sẽ bắc thang cho lên sàn chơi. Lúc này hai bên vừa nói chuyện vừa hát đối đáp đến khuya mới về.           

Ngoài chức năng độc tấu, pí pặp đôi còn được sử dụng để đệm cho các làn điệu dân ca như: Loong te, đám cưới, mừng nhà mới, mừng thọ.

 

3. Âm nhạc dân gian của người Thái đen
     (bản Tủm, xã Chiềng Khoi, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La)

Ông Lừ Hồng Xưa ở bản Tủm sống trong một gia đình có truyền thống âm nhạc. Ông là nghệ nhân làm khèn bè, pí pở nổi tiếng ở tỉnh Sơn La. Các thành viên trong gia đình ông ai cũng có khả năng đàn hát nhiều làn điệu dân ca, dân nhạc của người Thái đen.

3.1. Dân ca

- Khắp Báo sao(hát trai gái) là điệu hát tỏ tình nam nữ.Lời khắp Báo sao  bài Tặng khăn người yêu do chị Lừ Thị Bình hát là một thí dụ:

Anh đi bộ đội, em không biết lấy gì tặng để làm kỷ niệm

Chỉ có chiếc khăn tay tặng anh để lau mồ hôi

Em ở nhà sẽ làm ruộng nương để thay cho anh đi bộ đội

Em ở nhà đợi anh, khi nào hết nghĩa vụ thì chúng ta kết hôn.

   - Thẩu ké (người già) là làn điệu người già thường hay hát khi chúc rượu nhau trong những dịp lễ Tết. Bài Mừng mùa xuân mới theo điệu Thẩu ké do chị Lừ Thị Bình hát có đoạn:

Xuân đã về trên quê hương

Muôn hoa đua nở trên khắp bản mường

Ta chúc nhau ai cũng được mạnh khỏe, hạnh phúc

Ai cũng được sống khỏe, sống vui cho đến già

Để chúc tuổi nhau để sang năm khác nữa

Mãi mãi được mừng những năm tiếp theo

Mùa xuân về chúng ta cùng nhau tăng gia sản xuất

Làm ruộng làm nương được nhiều thóc lúa. 

   - ụ lu non là điệu hát ru con của người Thái đen. Lời ụ lu non do chị Lừ Thị Bình hát:

Ngủ ngon đi con,

Mẹ còn đi nương đi rẫy

Nếu không ngủ có con cua nó kẹp má, kẹp môi

Ngủ đi con để cho mẹ đi làm ruộng, làm nương

Để có nhiều thóc, nhiều lúa.

Nếu con không ngủ con gà nó cắn vào má, vào mắt

Con chó nó cắn vào chân vào tay

Mẹ đi nương lấy quả ổi cho con

Mẹ đi làm sẽ lấy cá ở ruộng, ở ao về cho con

Ngủ đi con, ngủ đi.

3.2. Nhạc cụ     

- Khen pé (khèn bè) có nhiều kích cỡ dài ngắn khác nhau từ 75 cm - 120 cm. Theo nghệ nhân Lừ Hồng Xưa, nếu làm ngắn hơn âm thanh không được hay còn nếu làm dài hơn thì ống nứa lại không đều nhau giữa đầu gốc và ngọn.

Khèn bègồm 14 ống nứa tép được xếp thành hai hàng sát nhau. Hai ống trong một hàng có chiều dài bằng nhau. Trong 14 ống nứa có 12 ống được gắn lưỡi gà (2 ống còn lại chỉ có ý nghĩa về hình thức) bằng đồng hay bạc dát mỏng.

Bầu khèn được gọt từ loại gỗ nhẹ, dẻo không bị nứt nẻ như gỗ mực, gỗ mít. Phía trên của bầu khèn có khoét một lỗ thổi. Phần ống có gắn lưỡi gà được đặt trong bầu thổi của khèn. Sau khi xuyên các ống qua bầu thổi, người ta lấy sáp ong đen (tiếng Thái là khỉ sụt) miết kín các kẽ hở.

Trên mỗi ống có một lỗ bấm tạo cao độ (trừ 2 ống không gắn lưỡi gà). Vị trí của các lỗ bấm này cách bầu thổi khoảng từ 2 cm đến 8 cm tùy thuộc vào vị trí thuận lợi của ngón tay khi diễn tấu.

Các lỗ chỉnh cao độ nằm ở phía trong của hai hàng ống.

Hình ảnh bên ngoài của khèn bè:

 

Hình ảnh khèn bè nhìn ở phía trong hàng âm bên tay trái:

 

 A, C là các lỗ chỉnh cao độ - B là lưỡi gà

ống 1 người ta đo từ lam tới 2 đầu ống làm chuẩn âm thanh cho những ống khác. Từ lam tới đầu ống bên tay phải: 68cm, từ lam tới đầu ống bên tay trái: 24cm.

Tại ống 2: BA = 56 cm,       BC = 24 cm

Tại ống 3: BA = 39,5 cm,    BC = 12 cm

Tại ống 4: BA = 29 cm,       BC = 15 cm

Tại ống 5: BA = 22,3 cm,    BC = 8 cm

Tại ống 6: BA = 22 cm,       BC = 8 cm

Hàng âm: Fis - A - e1 - fis1 - h1

Hình ảnh khèn bè nhìn ở phía trong hàng âm bên tay phải:

 

              A, C là các lỗ chỉnh cao độ - B là lưỡi gà

Tại ống thứ 2 người ta không khoét lỗ chỉnh cao độ (không có lam)

Tại ống thứ 1: AB = 27 cm,          BC = 24 cm

Tại ống thứ 3: AB = 51,2 cm,       BC = 16 cm

Tại ống thứ 4: AB = 42,6 cm,       BC = 16,5 cm

Tại ống thứ 5: AB = 42,6 cm,       BC = 15 cm

Tại ống thứ 6: AB= 37,2 cm,        BC = 12,5 cm

Tại ống thứ 7: AB = 20 cm,          BC = 5,2 cm

Hàng âm: A – H - cis1 - d1 - e1 - d2

Người Thái đen ở bản Tủm sử dụng khèn bè với nhiều chức năng khác nhau như độc tấu, hòa tấu, đệm cho hát, đệm cho múa.

Chức năng độc tấu phổ biến nhất của khèn bè là dùng để đánh thức người yêu. Theo phong tục của người Thái đen, khi các chàng trai đến gần nhà người con gái mà mình yêu thì phải thổi khèn bè hoặc chơi một loại nhạc cụ nào đó để mời gọi người yêu dậy tâm sự. Thông qua tiếng khèn, người con gái có thể nhận biết đó có phải là người mình thích hay không. Nếu đúng người mình thích, cô gái sẽ dậy mở cửa mời vào nhà hoặc mời ngồi chơi ở sàn phơi. Cũng có quan niệm cho rằng đi chơi gái buổi tối mà không thổi khèn, thổi sáo thì không phải là người đàng hoàng. Bởi vì đi không nghe thấy tiếng khèn, tiếng sáo mà có tiếng chó sủa người ta bảo đó là kẻ gian.

Chức năng hòa tấu phổ biến nhất của khèn bè là chơi trong những dịp vui của cộng đồng. Có hai hình thức hòa tấu: hòa tấu 2 khèn bè và hòa tấu khèn bè với pí pở.

Chức năng đệm cho hát được sử dụng khá phổ biến, rất nhiều làn điệu dân ca có phần đệm là khèn bè.

Với chức năng đệm cho xòe (múa), khèn bè thường được sử dụng vào những dịp vui như lễ Tết, mừng nhà mới, mừng được mùa, khi mọi người đã uống rượu đến độ hưng phấn thì nam nữ thường mời nhau, cầm tay nhau thành vòng tròn, múa theo điệu nhạc của khèn bè. Trong trường hợp này, người thổi khèn đứng ở giữa vòng xòe vừa thổi, vừa nhún nhảy nhịp nhàng theo động tác múa.

Ngày nay, hầu như các chàng trai không còn biết thổi khèn, thổi pí và không còn dùng những nhạc cụ này để đánh thức các cô gái nữa, mà muốn đánh thức các cô gái dậy thì chỉ cần dùng tay hoặc một que gậy nhỏ chọc từ dưới sàn lên vào chỗ người con gái mình yêu đang ngủ và gọi “dậy đi dậy đi” - cũng có người gọi hình thức này là tục chọc sàn.

- Pí pở  là loại sáo thổi dọc, chi lưỡi gà rung tự do. Lưỡi gà được làm bằng bạc. Phía đầu sáo gắn lưỡi gà có mấu kín còn đầu kia rỗng. Pí pở gồm 6 lỗ bấm tạo cao độ (1 lỗ dưới và 5 lỗ trên).

Theo kinh nghiệm làm pí pở của nghệ nhân Lừ Hồng Xưa, thì phải chọn cây nứa tép (nhỏ) già, gióng dài và phơi nắng khoảng 1 tháng rồi làm. Để tính toán kích thước và các lỗ bấm tạo cao độ của pí, ông dùng một sợi lạt làm thước đo, lấy chu vi vòng ngoài của ống sáo làm đơn vị để xác định vị trí các lỗ trên thân sáo. Khoảng cách từ đầu thổi tới lỗ dưới B tương đương với 3 vòng chu vi ống sáo. Khoảng cách từ lỗ B tới lỗ C, từ lỗ C tới lỗ D, từ lỗ D tới lỗ E bằng nhau đều là nửa vòng chu vi. Từ lỗ E tới lỗ F, lỗ F tới lỗ G bằng nhau đều là 1 vòng chu vi. Từ lỗ G tới đầu ống H bằng khoảng cách từ lam tới lỗ B nghĩa là 3 vòng chu vi.

 A: Lưỡi gà  -  B, C, D, E, F, G: Lỗ bấm tạo cao độ  -  H: Lỗ thoát âm

Pí pở khác với khèn bè ở chỗ, pí pở chỉ thổi hơi vào mới phát ra âm thanh còn khèn bè thổi vào, hít ra đều tạo ra âm thanh. Để âm thanh của pí pở được liên tục không bị ngắt quãng các nghệ nhân phải dùng kỹ thuật luồn hơi - lấy hơi nối tiếp qua đường mũi. Muốn học kỹ thuật lấy hơi này, người ta lấy một cọng lúa, một đầu ngậm vào miệng, đầu kia cắm vào trong bát nước rồi vừa thổi nhẹ, vừa lấy hơi qua đường mũi sao cho hơi ra đều không bị ngắt quãng là được. Sau đó mới tập vào nhạc cụ pí pở.

Pí pở cũng là nhạc cụ dùng để đi chơi gái, đánh thức con gái dậy tâm sự với mình, dùng để hòa tấu, đệm cho hát nhưng pí pở không được dùng để đệm cho múa.

 

TM KT

 

Quá trình khảo sát âm nhạc dân gian của ba dân tộc ở tỉnh Sơn La chúng tôi nhận thấy vốn âm nhạc dân gian của cả ba dân tộc đã và đang có nguy cơ mai một rất rõ rệt. Chẳng hạn, nhạc cụ độc đáo của người Kháng là biếng tóng (đàn môi) đã không còn người biết làm và sử dụng. Hoặc pí pặp đôi huyện Quỳnh Nhai chỉ còn có một mình ông Điêu Chính Pánh biết làm và biết thổi. Về dân ca cũng vậy, người Kháng chủ yếu hát theo các làn điệu của người Thái, còn người La ha mỗi bản chỉ còn 1 đến 2 người biết hát dân ca của dân tộc mình. Hơn nữa, trong số những người biết hát dân ca chủ yếu là ở lứa tuổi trung niên và cao niên, rất ít các em ở lứa tuổi thanh thiếu niên hát được dân ca của dân tộc mình, mặc dù các nghệ nhân cao tuổi của các dân tộc cũng đã nỗ lực truyền lại vốn âm nhạc dân gian cho lớp trẻ. Chẳng hạn nghệ nhân Lừ Hồng Xưa đã truyền lại cách làm và chơi khèn bè cho con trai; nghệ nhân Lò Văn Đoan luôn có ý thức truyền dạy cách làm và chơi tính tẩu cho các cháu trong bản; nghệ nhân Lò Thị Phấu đã tự tổ chức một đội văn nghệ để thực hành vốn âm nhạc dân gian của dân tộc Kháng dành cho các em ở lứa tuổi thanh thiếu niên… Những việc làm đó của các nghệ nhân rất có ý nghĩa trong việc bảo tồn vốn âm nhạc dân gian nhưng vì điều kiện kinh tế khó khăn nên họ không có khả năng truyền bá rộng rãi và duy trì thường xuyên.

Đứng trước thực trạng đó, Viện Âm nhạc đã kịp thời thực hiện hai việc: Một là, hỗ trợ kinh phí để mời một số nghệ nhân giỏi và tổ chức lớp truyền dạy lại vốn âm nhạc dân gian của 3 dân tộc nói trên cho lớp trẻ. Hai là, thu thanh, ghi hình một số loại hình âm nhạc dân gian của 3 dân tộc còn được lưu truyền đến ngày nay. Đây là những tư liệu rất có giá trị trong việc bảo tồn, truyền bá và là cơ sở để phục hồi lại vốn âm nhạc dân gian đã bị mai một.

 



[1]. Bản Đán Đăm 2 mới được xây dựng lại vào tháng 12 năm 2006. Trước đây, bản nằm ở ven bờ sông Đà nhưng vì di dân phục vụ cho việc làm thủy điện Sơn La nên chuyển về làm bản mới ở đây.

[2].  Như chân kìm: Ví tình yêu gắn bó với nhau chặt như xiết gọng kìm.

[3]. Ông Điêu Chính Pánh còn nói vui về 2 ống sáo như sau: “Con trai ít nói còn con gái nó thích nói nhiều mà”.

 

Thêm một trao đổi