03-09-2014, 18:34

ĐIN DÃ, SƯU TM ÂM NHC DÂN GIAN
C
ÁC DÂN TC THÁI, H’MÔNG, KHƠ MÚ
T
NH NGH AN

(THUỘC CHƯƠNG TRÌNH DỰ ÁN “H TR VĂN HÓA VIT NAM
V
Ì S PHÁT TRIỂN BỀN VNG 2005-2009” DO QUỸ SIDA – THỤY ĐIỂN TÀI TRỢ)

 

       NGUYN ĐÌNH LÂM

 

 

Chỉ đạo thực hiện:

PGS.TS. Lê Văn Toàn - Viện trưởng Viện Âm nhạc

Nghiên cứu:

Nguyễn Đình Lâm

Nhóm thu thanh, ghi hình:

Thu thanh: Trần Hải Đăng, Nguyễn Trọng Hào

Đạo diễn: Nguyễn Văn Dân

Quay phim: Nguyễn Văn Bình, Mai Trùng Khánh

Chụp ảnh: Nguyễn Ngọc Long

Kỹ thuật: Đinh Việt Thắng

 

Dân tộc và địa điểm thực hiện dự án:

- Dân tộc Thái ở xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

- Dân tộc H’Mông ở xã Tà Cạ, Hữu Kiệm, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An

- Dân tộc Khơ mú ở xã Nga My, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An 

 

Thời gian tiến hành:

  Tháng 3 đến tháng 7 năm 2009

Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, trên tuyến giao lưu Bắc - Nam, cách thủ đô Hà Nội 300km về phía Nam. Phía Bắc Nghệ An giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp Lào, và phía Đông giáp biển Đông. Diện tích tự nhiên của Nghệ An là 16.370km2 trong đó miền núi chiếm 3/4 diện tích. Tính đến năm 2007, dân số Nghệ An là 3.103.400 người, gồm 6 dân tộc: Việt (Kinh), Thái, Thổ, Khơ mú, H’Mông, Ơ đu. Họ sống trên địa bàn 20 huyện/thị: thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, thị xã Thái Hòa và các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Đô Lương, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Anh Sơn, Con Cuông, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Tương Dương và Kỳ Sơn.

Năm 2009, thực hiện dự án “Hỗ trợ văn hóa Việt Nam vì sự phát triển bền vững giai đoạn 2005 - 2009”, Viện Âm nhạc đã tiến hành khảo sát, sưu tầm vốn di sản âm nhạc dân gian và nghệ thuật biểu diễn truyền thống của ba dân tộc Thái, H’Mông và Khơ mú.

I. Dân tộc Thái

 

1. Văn hóa và đời sống

Người Thái còn được gọi là Tày Khao (Thái trắng), Tày Đăm (Thái đen), Tày Mười, Tày Đen (Man Thanh), Hàng Tổng (Tày Mường) hay Thổ Đà Bắc. Họ có mặt trên miền Tây Bắc Việt Nam trên 1200 năm khoảng thế kỷ VII - XIII1, là con cháu người Thái di cư từ vùng đất thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc bây giờ. Ngôn ngữ của người Thái thuộc hệ ngôn ngữ Thái - Kadai.

Khi tới Việt Nam, đầu tiên người Thái tập trung ở Điện Biên Phủ (Mường Thanh). Từ đây, họ tỏa đi khắp nơi trong cả nước. Theo điều tra dân số của Việt Nam năm 1999, người Thái có 1.328.725 người, cư trú tập trung ở các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. ở nước ta, người Thái có các họ như Bạc, Bế, Bua, Bun, Cà, Cẩm, Chảo, Chiêu, Đèo, Điều, Hà Hoàng, Khằm Leo, Lèo, Lềm, Lý, Lò, Lộc, Lự, Lượng, Manh, Mè, Nam, Nông v.v…

Tại tỉnh Nghệ An, người Thái có khoảng 284.119 người, chiếm 70,26% dân tộc thiểu số của tỉnh. Họ sống rải rác ở các huyện miền núi Nghệ An, song đông đúc nhất là ở huyện Con Cuông với hai nhánh Thái chính là Hàng Tổng và Man Thanh.

Kinh tế

Người Thái ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An lấy cây lúa là cây trồng chủ đạo, trong đó lúa nước là chính. Họ giàu kinh nghiệm đào mương, bắc máng đưa nước vào ruộng để cấy trồng. Song song với cây lúa là các nghề thủ công như trồng dâu, nuôi tằm và dệt vải. Với bàn tay tài hoa,  những người phụ nữ Thái đã dệt được những tấm thổ cẩm có hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp. Ngày nay, cũng như nhiều tộc người khác trên đất nước ta, cùng với chính sách phát triển kinh tế chung cho đồng bào nông thôn và miền núi, đời sống của người Thái cũng đang phát triển theo hướng đa dạng. Nghệ dệt nói chung không còn được chú trọng như trước. Họ tập trung công nghiệp hóa cây trồng và vật nuôi theo mô hình kinh tế VAC của Chính phủ.

Trang phục

Trước đây, trong sinh hoạt và lao động, người đàn ông Thái thường ngày  mặc áo màu chàm, màu xanh hoặc màu đen tím than. áo cắt kiểu cánh ngắn, cổ tròn, hai vạt trước có túi thấp và được cài vào nhau bằng hàng cúc vải hoặc xương. Vào các dịp lễ tiết, họ thường bận áo dài xẻ tà màu chàm, đầu quấn khăn. Trong tang lễ, họ mặc nhiều loại quần áo sặc sỡ, tương phản màu sắc với ngày thường. áo của phụ nữ Thái Hàng Tổng và Man Thanh là áo cánh ngắn (xửa cóm). Họ thường chọn dệt vải màu xanh sáng, ve áo đính cúc bạc hình bướm, ve, ong. Khăn Piêu với đường diềm khá phức tạp là đặc trưng của trang phục phụ nữ Thái.

Nhà ở

Người Thái ở nhà sàn 4 mái (2 mái chính và 2 mái phụ), làm từ 3 đến 5 gian, cột chôn, vách gỗ và lợp ngói. Phần lớn các ngôi nhà được bố trí 2 cầu thang lên xuống. Cửa chính mở ở phía trước, cửa phụ mở phía sau. Nhà có hai gian hồi để trống và có lan can bao quanh. Khung cửa ra vào và cửa sổ có nhiều hình thức trang trí khác nhau. Trong nhà chia ra nhiều phần: một phần dành cho ngủ nghỉ, một phần làm bếp nấu ăn, phần dành làm nơi tiếp khách.

Cưới hỏi

Lễ cưới được tổ chức làm ba bước: ăn hỏi, cưới lậy và cưới chính thức.

Ăn hỏi chia làm sáu lần do nhà trai cử bốn người phụ nữ sang nhà gái. Mỗi lần sang, người ta mang lễ vật gồm 20 cái bánh lá, hai chai rượu. Đủ sáu lần, người ta mới bắt đầu mời ông mối tới hỏi và xin cưới. Trong buổi gặp mặt này phải có đầy đủ đại diện hai bên nhà trai và nhà gái. Sau khi hai bên đã thống nhất việc cưới hỏi của đôi trai gái, ông mối bắt đầu làm lễ cúng tổ tiên bên nhà gái.

Cưới lậy: nhà trai phải đưa sang nhà gái lễ vật gồm bánh lá (bánh chưng) gà, lợn và tiền thách cưới, đệm và gối. Tiền thách cưới là lễ vật quan trọng nhất. Số tiền này sẽ được đưa sang bên nhà gái một phần vào ngày cưới lậy, phần còn lại sẽ đưa sang nhà gái trước lễ cưới chính thức một ngày. Sau cưới lậy, người con trai sẽ phải sang nhà gái ở và làm việc một thời gian, có thể là 3 tháng hoặc lâu hơn để nhà gái có dịp tìm hiểu kỹ về người con rể của mình. Sau thời gian này, nếu người con trai đáp ứng được những tiêu chuẩn cũng như được nhà gái ưng ý thì hôn lễ chính thức được tổ chức ngay sau đó. Phong tục này thực chất là bước thử thách của nhà gái dành cho nhà trai.

Cưới chính thức: nhà trai sang đón cô dâu về. Cô dâu cũng sẽ được bố mẹ chuẩn bị và sắm cho một số đồ cưới thiết yếu, như đệm nằm và chăn gối. Đồng thời, cô dâu sẽ phải mua biếu bố mẹ chồng bộ trang phục thổ cẩm truyền thống thật đẹp. Ngày cưới của đôi bạn trẻ người Thái diễn ra khá đông đúc và vui vẻ. Người ta mổ trâu bò, lợn gà và ăn uống thịnh soạn. Bạn bè, họ hàng và người thân đều được mời dự. Thanh niên nam nữ hai họ tổ chức hát những bài Khắp đối đáp, biểu diễn những bài khèn thể hiện niềm vui bao hàm ý nghĩa chúc mừng.

Tang ma

Khi trong gia đình người Thái có người hấp hối, người ta cho gọi tất cả con cháu tới. Đến khi tắt thở, việc làm đầu tiên của họ là đặt chiếu xuống đất sau đó phủ ba lớp vải trắng xuống chiếu rồi mặc quần áo cho người chết rồi đặt thi thể nằm trên lớp vải trắng. Trước khi nhập quan, người ta mời một người biết làm thủ tục nhập quan (thường là người giúp việc cho ông Mo) đứng ra gọi hồn người chết, sau đó mới đưa vào quan tài. Làm xong công việc này, người ta cử người đi mời ông Mo. Lễ vật đưa sang nhà ông Mo gồm 5 lá trầu, 5 miếng cau cùng một chai rượu. Khi thầy Mo tới gần cửa thì gia đình không ai được khóc. Người ta sẽ đặt lên trên quan tài một mâm lễ gồm một bát cơm, một đôi đũa và một con gà.

Trong đám tang, con gái mặc quần áo tang và đội khăn trắng, con trai mặc quần áo tang và đội mũ tang. Chiếc mũ này được người ta làm từ chiếc khăn trắng. Trước khi đưa đi chôn, ông Mo sẽ mang theo một quả trứng gà. Khi mang quan tài ra tới nghĩa địa, ông Mo tung quả trứng tới chỗ đất trống, nếu quả trứng vỡ thì có nghĩa là chỗ ấy có thể chôn cất người này được và ngược lại. Việc chôn cất cũng tùy thuộc vào ông Mo xem giờ tốt xấu thế nào. Khi mang đi chôn, người ta cũng mang theo cả tranh nứa và nhiều thứ khác để làm nhà mồ. Cũng có khi người ta làm sẵn nhà mồ rồi khiêng theo quan tài.

Sau khi chôn cất được 3 tháng, gia đình làm lễ ba tháng. Lễ vật gồm có gà và rượu. Đến 9 tháng thì người ta làm lễ mãn tang. Trong nghi lễ này, nếu là tang lễ của người cao tuổi, người ta tổ chức mổ lợn, thổi khèn, đánh trống nhộn nhịp.

Lễ hội

Người Thái tin vào thế giới thần linh, gồm mường trời và mường đất. Người ta quan niệm, vạn vật trong vũ trụ đều ẩn chứa linh hồn. Người đóng vai trò kết nối giữa thế giới thần linh với thế giới con người là các thầy Mo. Thầy Mo tượng trưng cho thế giới thần quyền ở mường đất. Hàng năm, các thầy Mo thường tổ chức lễ hội tại các bản làng để tạ ơn thần sông, thần núi, ông bà tổ tiên trên mường trời đã phù hộ cho con cháu dưới trần gian có sức khỏe dồi dào và cuộc sống yên vui, no ấm. Các lễ hội lớn hàng năm như lễ cúng bản, cúng mường, lễ hội mùa xuân, lễ cầu mùa, cầu mưa v.v..

Nổi bật nhất trong các lễ hội truyền thống của đồng bào là lễ hội Xăng Khan. Lễ hội được tổ chức 3-5 năm một lần vào mùa xuân. Mục đích để tạ ơn thần linh và tổ tiên đã phù hộ cho các thầy Mo biết lấy thuốc chữa bệnh cho dân. Xăng Khan còn là nghi lễ để các thầy Mo làm lễ tạ lỗi với các gia đình có người bị ốm mà Mo đã không chữa trị được cho họ. Trong lễ hội, người ta bày các lễ vật khác như thịt lợn, gà, rượu cần và các loại hoa quả. Đồng thời, họ làm một cây hoa to bằng nứa già cao chừng 3m. Trên cây nứa có chạm trổ nhiều hình chim, và được khoan nhiều lỗ để cắm các hình đan hoặc giấy cắt tượng trưng các loại quả và muông thú.

2. Âm nhạc dân gian

2.1. Dân ca

Khi tập trung khảo sát đời sống âm nhạc dân gian của người Thái ở xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, chúng tôi nhận thấy đồng bào còn lưu giữ được các làn điệu hát ru, khắp (khắp nhuôm, khắp ời, khắp hội), xuối, lăm, sến, v.v...

Hát ru

Tiếng Thái hát ru là ừ lúc. Người ta thường hát ru khi cho con bú, khi trẻ ngủ trên nôi. Nội dung của những bài hát ru được khai thác từ chính cuộc sống thường nhật của họ. Đó là những tâm tư về cuộc sống, về nguyện vọng, mong ước những điều tốt lành, đồng thời qua đó cũng là để giáo dục những điều hay lẽ phải tới đứa con của họ. Vì thế có thể nói, nội dung bao trùm toàn bộ trong những bài hát ru của người Thái ở đây là những bài học đạo đức đầu đời giúp mỗi đứa trẻ lớn lên trở thành người con của bản làng.

Hát Khắp

Hát Khắp có hai dạng là Khắp Hội, Khắp ời. Khắp Hội là lối hát phổ biến nhất, được dùng nhiều trong các sinh hoạt giải trí và trong cưới hỏi của đồng bào Thái. Tính chất âm nhạc nhẹ nhàng, trong sáng nhưng man mác buồn. Khi Khắp Hội, người ta thường có hai nhạc cụ là khèn bè và sáo dọc đệm theo. Còn Khắp ời, thường gọi là điệu hát Khắp tự do, thường chỉ hát một mình, để tự sự. Khắp ời thường không có nhạc cụ đệm theo.

Hát Khắp chỉ sử dụng trong sinh hoạt đời thường, không dùng trong tang ma hoặc nghi lễ tín ngưỡng. Trong các đám cưới, hát Khắp được thanh niên nam nữ sử dụng như một phương tiện diễn tả tâm trạng vui mừng, những lời chúc tụng ấm no, hạnh phúc cho đôi vợ chồng; nó cũng dành cho đôi trai gái thể hiện những cảm xúc của mình đối với người mà họ mến yêu. Nội dung cũng như đề tài của những bài Khắp thường không giới hạn. Người ta có thể ứng tác và hát những nội dung khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau. Ngoài hát Khắp, người Thái còn có hát Nhuôm, hát Lăm, hát Xuối.

 2.2. Nhạc cụ

Người Thái có đủ các họ nhạc cụ: dây, hơi, tự thân vang và màng rung. Các nhạc cụ này hiện vẫn đang được các nghệ nhân dân gian lưu truyền và phát huy trong sinh hoạt đời thường, các dịp hội hè, lễ tết của họ.

Tập tinh là nhạc cụ dây gảy, chi gõ. Nhạc cụ này do nam giới sử dụng trong sinh hoạt giải trí.

Tập tinh được cấu tạo từ một ống tre dài khoảng 45cm, đường kính khoảng 10cm, hai đầu ống giữ lại mấu. Đàn có sáu dây, trong đó bốn dây giữa lên cách nhau một quãng 3, còn hai dây ngoài cùng gọi là hai dây trống. Gọi là dây trống vì chỉ dùng thanh tre đập để tạo tiết tấu mà không đi giai điệu. Các dây đàn được làm trực tiếp từ thân đàn, bằng cách tách từ phần cật của ống tre. Riêng ở phần giữa hai dây trống người ta khoét một cái lỗ có đường kính khoảng 3cm để thóat âm. Trên đó, người ta dùng một miếng nứa mỏng có đường kính lớn hơn chiếc lỗ không đáng kể, rồi kẹp giữa hai dây trống này. Tất cả các đầu dây đàn và trống đều được chèn những miếng gỗ hoặc tre nhỏ như ngựa đàn ở phần cuối hai đầu dây. Khi diễn tấu, người ta dùng các đầu ngón tay trái để gảy, búng, phối hợp với tay phải cầm một thanh tre nhỏ đập vào ngang dây trống và thành ống đàn tạo những âm thanh phức hợp và độc đáo.

Xò lò là nhạc cụ dây kéo, do nam giới sử dụng, dùng vào mục đích giải trí. Trước đây, nhạc cụ có 2 dây làm bằng tơ tằm, hoặc tách trực tiếp từ thân ống, như đàn tập tinh. Nhưng ngày nay, ngoài việc sử dụng dây bằng kim loại sắt người ta còn bổ sung thêm dây thứ ba cùng chất liệu. Cung kéo làm từ một thanh tre mỏng, có chiều dài khoảng 45cm, rộng khoảng 1cm; dây cung thường được làm từ lông đuôi ngựa nhưng phổ biến là làm từ những sợi cước nhỏ. Đây cũng là một trong những nhạc cụ xuất hiện phổ biến trong đời sống sinh hoạt âm nhạc dân gian của người Thái ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Nhạc cụ này ngoài dùng để độc tấu còn có thể sử dụng hòa tấu hoặc đệm cho hát dân ca trong sinh hoạt thường ngày.

Kén(khèn bè) là nhạc cụ hơi thổi, được sử dụng phổ biến trong đời sống sinh hoạt âm nhạc dân gian thường ngày của người Thái. Nhạc cụ này có cấu tạo 14 ống nhưng chỉ có 13 lỗ bấm cao độ, một ống còn lại tạo cho hình dáng nhạc cụ cân xứng. Khèn bè do nam giới sử dụng để độc tấu hoặc đệm cho hát. Vào những dịp lễ hội truyền thống của đồng bào Thái, tiếng khèn được coi như một đặc trưng không thể thiếu. Nó gắn với những điệu múa vui được mùa, múa hát mừng nhà mới v.v.. Đối với những chàng trai mới lớn, trước đây, khèn bè còn là phương tiện giúp họ thể hiện tâm tư, tình cảm đối với người mình yêu; khèn là “ông mối” gắn kết đôi trai gái với nhau và giúp họ nên vợ nên chồng.

Pí nhuôn là một loại sáo dọc, dạng lưỡi gà. Pí nhuôn được cấu tạo từ một dóng nứa có đường kính khoảng 1.5cm, chiều dài khoảng 45cm - 55cm. Đầu sáo được giữ kín bởi phần mấu. Dưới phần này khoảng 1cm, người ta tách một đoạn vỏ để gắn lưỡi gà bằng đồng dát mỏng. Trên thân sáo người ta  đục 7 lỗ bấm cao độ, trong đó một lỗ đầu tiên ở dưới, 6 lỗ còn lại nằm trên. Khi làm các lỗ, người ta thực hiện bằng cách đo từ phần lưỡi gà tới lỗ bấm thứ nhất bằng 5 vòng chu vi của ống nứa. Từ lỗ bấm thứ nhất tới lỗ bấm thứ bảy là 4 vòng chu vi và từ lỗ bấm thứ tư đến lỗ bấm thứ ba bằng 1 vòng chu vi. Hàng âm của pí nhuôn là: a - c1 - d1 - f1 - g1 - a1- c2. Âm sắc của pí nhuôn vang và sáng. Người ta thường dùng nhạc cụ này để độc tấu những bài phỏng theo giai điệu của điệu khắp, lăm, nhuôn và các bài bản dân ca khác. Đây là nhạc cụ do nam giới sử dụng, chỉ dùng trong sinh hoạt có tính chất giải trí, không dùng trong tang ma và nghi lễ tín ngưỡng khác.

Tăng pu là nhạc cụ tự thân vang, được cấu tạo từ những ống tre hoặc nứa già có đường kính khoảng từ 12 - 15cm, chiều dài trung bình từ 45 - 50cm. Nhạc cụ này sử dụng trong một số nghi lễ tín ngưỡng của người Thái, nhiều nhất là trong lễ hội Xăng Khăn. Nhạc cụ chủ yếu do nữ giới sử dụng, dùng hòa tấu với cồng chiêng và trống. Âm thanh của tăng pu vang nhờ vào sự nén hơi đột ngột và đặc điểm chất liệu của thân nhạc cụ khi người chơi dỗ, đập xuống đất. Trong mỗi lần hòa tấu, thông thường tăng pu được biên chế từ 4 - 6 người, mỗi người cầm hai ống dỗ xuống đất. Ngày nay, tăng pu không những được diễn tấu trong các lễ thức tín ngưỡng, mà nó còn được các nghệ nhân dân gian sáng tạo thêm các phần tiết tấu khác để hòa tấu trong các sinh hoạt có tính chất giải trí.

Khắc luống gồm có loóng (cối giã gạo) và co xạc (chày giã gạo), là nhạc cụ thân vang. Gọi là một nhạc cụ vì trong quá trình thực hiện nó tạo ra nhiều âm hình tiết tấu khá độc đáo và phức tạp. Thông thường sẽ có một nhóm có từ 6 - 8 người, đứng hai bên cầm chày vừa giã/gõ, vừa khua vào thành luống để tạo ra những tiết tấu nhộn nhịp. Người Thái ở huyện Con Cuông chơi luống vào các dịp vui như đám cưới, các lễ hội. Khi chơi trong các không gian thiêng là lễ hội, người ta như cầu mong thần linh phù hộ cho một mùa vụ bội thu, người dân trong bản làng no ấm và khỏe mạnh.

Luống được cấu tạo từ một thân cây gỗ già thớ xoắn, ít bị nứt ở giữa có chiều rộng khoảng 45cm, chiều dài từ 2,5 - 3m. Người ta khoét thân cây gỗ này dưới dạng thuyền, trông cũng gần như chiếc máng nước ngắn. Một đầu đục một cái lỗ để giã gạo. Những chiếc chày giã gạo có chiều dài khoảng 2m, đường kính khoảng 14cm. Số lượng chiếc chày này nhiều hay ít tùy thuộc vào số lượng người chơi, nhưng thông thường người ta biên chế khoảng 8 người, mỗi người cầm 1 chiếc. Cùng với những người chơi khắc luống, người ta có thể bổ sung một đội múa ở bên ngoài, múa quanh và theo tiết tấu của luống. Bên cạnh đó còn có cồng chiêng và trống cùng hòa tấu cùng với nó. Lúc này, luống vừa với tư cách là nhạc cụ trung tâm, vừa với tư cách là nhạc cụ giữ nhịp chính cho dàn hòa tấu.

Côống (trống) được chia ra làm hai loại là trống đứng trống dẹt. Trống đứng và trống dẹt có hình dáng cấu tạo như các loại trống lớn và trống bản của người Việt.

Côóng (cồng) thường được sử dụng từ 3 đến 4 chiếc, đều có núm. Khi sử dụng 4 chiếc thì gọi là đủ bộ. Cồng lớn nhất gọi là coóng chmè có đường kính khoảng 55cm; cái thứ hai gọi là coóng cáng với đường kính khoảng 46cm; cái thứ ba gọi là coóng hán với đường kính khoảng 40cm; và cái nhỏ nhất là coóng lực với đường kính khoảng 27cm. Hàng âm của bốn chiếc chiêng là e1 - g1 - a1 - c2. Bốn chiếc này có khi được treo lên giá, nhưng cũng có khi người ta chỉ treo ba chiếc, còn một chiếc cầm trên tay. Côống và coóng thường được dùng trong lễ hội của dân làng.

II. Dân tộc H’Mông

 

1. Văn hóa và đời sống

Người H’Mông, còn gọi là người Miêu hay Mèo, ngôn ngữ thuộc nhánh Miêu - Dao, hệ Hán - Tạng. Người H’Mông sống chủ yếu ở Nam Trung Quốc, tại các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây và Hồ Bắc.  

Người H’Mông di cư vào Việt Nam khoảng thế kỷ XVIII, hiện có khoảng 780.000 người, sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh dọc theo biên giới Việt - Trung, Việt - Lào ở cả vùng Đông Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam, từ Lạng Sơn tới Nghệ An. Người H’Mông ở nước ta có các ngành: H’Mông trắng, H’Mông hoa, H’Mông đen, H’Mông xanh và H’Mông đỏ.

Tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, người H’Mông có hai nhánh là H’Mông trắng và H’Mông hoa. Người H’Mông ở đây có các họ Vừ, Hạ, Mùa, Xùng, Lầu, Và, Cự, Tra, Thò, Giàng, Dành và Kha. Các dòng họ sống đoàn kết và hợp quần bên nhau thành bản làng. Họ bảo tồn được nhiều vốn văn hóa truyền thống, từ kiến trúc nhà ở tới phong tục tang ma, cưới hỏi, lễ hội và trang phục.

Theo thống kê dân số của tỉnh Nghệ An, đến hết năm 2007, người H’Mông có khoảng 28.734 người chiếm gần 7% số dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh và chiếm gần 1% dân số toàn tỉnh.

Kinh tế

Người H’Mông ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An sinh sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy, ngày nay có phát triển trồng lúa nước. Trước đây, đồng bào săn bắt thú rừng và lấy gỗ làm củi bán để cải thiện cuộc sống, nhưng đến nay do tài nguyên rừng khan hiếm cùng với chính sách bảo vệ rừng nên chỉ còn số ít người đi lấy củi. Nhờ chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn của Chính phủ, người H’Mông cũng đã và đang tiến tới mô hình kinh tế vườn, ao, chuồng (VAC) hoặc làm kinh tế trang trại, do vậy cuộc sống đã có những thay đổi đáng kể.

Nhà ở

Nhà, làm theo lối nhà trệt, tường đất thấp (làm theo lối trình tường), mái lợp tranh. Trong nhà thường không chia gian. Song cũng có gia đình chia hai gian. Gian ngoài để ở và sinh hoạt, gian trong là bếp nấu ăn. Ngày nay, những gia đình có kinh tế khá giả đã xây những ngôi nhà kiên cố như nhà trần, ống, hay những nhà cấp bốn. Trong nhà cũng được bài trí theo lối hiện đại, gồm giường, tủ và nhiều nội thất đắt tiền khác.

Trang phục

Trang phục là yếu tố nổi bật trong đời sống văn hóa vật thể của đồng bào H’Mông ở Nghệ An. Với người phụ nữ H’Mông, trước khi đi làm dâu, người mẹ tặng con gái bộ váy áo coi như của hồi môn. Khi về nhà chồng rồi, cô gái lại thêu dệt váy áo để tặng mẹ đẻ và mẹ chồng. Người ta quan niệm, người phụ nữ giàu có là người có nhiều váy áo đẹp và nhiều trang sức. Tuy vậy, hiện nay họ cũng chỉ còn mặc bộ trang phục này vào các dịp lễ hội truyền thống mà ít mặc trong sinh hoạt thường ngày. Thêm nữa, nếu như trước đây, phần lớn phụ nữ H’Mông tự tay dệt và làm một bộ váy áo với màu sắc sặc sỡ, đường nét hoa văn tinh xảo cho mình mặc bằng phương pháp thủ công truyền thống, thì ngày nay phần lớn đã sử dụng phương pháp công nghiệp và mua vải về để máy may theo sở thích. Vì thế, cùng với sự biến đổi về chất liệu vải là xu hướng biến đổi thẩm mỹ trong việc thể hiện màu sắc và hoa văn trong trang phục của các thiếu nữ H’Mông.

Cưới hỏi

Lễ cưới của người H’Mông là một trong những nghi thức quan trọng nhất của đời con người. Lễ cưới của đồng bào ở đây có tục bắt dâu. Người con trai có quyền ngắm cô gái nào mình thấy thích rồi bắt về làm vợ. Sau khi đã bắt về nhà mình, người con trai mới mời một ông mối sang nhà gái để xin phép. Sau đó, thông qua ông mối, nhà trai thống nhất lễ vật đám cưới. Lễ vật được đưa sang đúng ngày cưới, thường gồm tiền, thịt lợn, 20 lít rượu, 7 con gà (2 con ăn dọc đường, 1 con giao cho nhà gái cúng tổ tiên, 4 con làm lễ vía cô dâu và chú rể), thuốc lá, một chiếc khăn.

Ngày nay, tục lệ này không còn phổ biến. Trai gái lấy nhau phải được sự đồng ý của nhau theo pháp luật của nhà nước. Trước đây, cũng vì hôn lễ diễn ra theo lối áp đặt, cưỡng bức khiến cho nhiều cô gái H’Mông đã phải ăn lá ngón, lấy cái chết để giải thóat cho mình.

Tang ma

Khi trong gia đình có người tắt thở, bước đầu tiên người ta thông báo cho anh em họ hàng và làng xóm biết. Việc làm tiếp theo là thổi khèn bài Kênh tu xia (bài tắt thở). Sở dĩ nguời ta thổi khèn đầu tiên là bởi vì tiếng khèn, theo quan niệm của người H’Mông, là một thứ ngôn ngữ thứ hai, kết nối những điều mà người sống muốn bày tỏ và có thể nói được với người chết. Nó cũng được coi như tín hiệu thông báo với tổ tiên của người H’Mông biết rằng trong gia đình, dòng họ và buôn làng có ai đó vừa qua đời, trở về với họ. Vậy nên khèn có vai trò đặc biệt quan trong trong lễ tang của người H’Mông.

Theo phong tục, người cậu ruột (em mẹ) hay người cô (em bố) giữ vai trò quyết định trong quá trình cử hành tang lễ của người H’Mông. Nếu trong gia đình có mẹ mất, thì người được báo sớm là người cậu ruột; ngược lại, người cha mất thì người ta gọi ngay cô em gái của cha. Khi người cậu hoặc người cô về, gia đình con cháu sẽ phải có mặt đầy đủ, bởi họ là những người quyết định mổ trâu hoặc bò để chia tang, hoặc chia của cho người chết. Sự có mặt của họ giúp cho linh hồn người chết nhận được những của chia. Đây là tục lệ bắt buộc khi tiến hành tang lễ của người H’Mông.

Tang lễ thường tổ chức trong ba ngày. Quan tài của người chết sẽ được đặt dọc theo ngôi nhà. Sáng hôm cử hành mai táng, người ta mổ lợn, gà, trâu, bò và làm cỗ rất to để tiễn ma. Mười ba ngày sau, người ta tổ chức lễ gần như ngày giỗ. Lễ này được lặp lại sau ba tháng hoặc một năm sau rồi chấm dứt. Sau đó chỉ vào ngày Tết họ mới đi thăm viếng mộ người quá cố.

2. Âm nhạc dân gian

2.1. Dân ca

Trong kho tàng dân ca của người H’Mông ở xã Tà Cạ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, những thể loại còn bảo tồn được cho tới ngày nay là hai điệu hát là Cứ xiaLù tẩu.

Cứ xia là điệu dân ca dùng trong sinh hoạt đời thường của người H’Mông. Người ta có thể hát Cứ xia một mình, hoặc hát trao duyên, hay hát trong đám cưới. Khi hát một mình, nó là phương tiện để giãi bày tâm sự; khi hát trao duyên nó thỏa mãn nhu cầu tìm bạn tình hay mở rộng quan hệ cộng đồng. Khi hát đám cưới, Cứ xia trở thành lối hát giàu tính nghi thức. Ví dụ, hát Cứ xia khi hai ông mối nói chuyện với nhau; hát khi nói chuyện với bố mẹ gia đình hai bên; hát khi cha mẹ cô dâu và chú rể giao và nhận con của nhau; hát khi thanh niên hai họ giao lưu và bày tỏ niềm vui với nhau v.v.. Trước đây, khi hát Cứ xia người ta không sử dụng nhạc cụ đệm. Ngày nay khi hát điệu hát này đồng bào đã đưa chiếc trà kò (nhị) vào để đệm.

Lù tẩu cũng là một điệu hát đặc trưng của người H’Mông. Giống như Cứxia, Lù tẩu có thể hát một người, hoặc hát đối đáp. Nội dung của những bài Lù tẩu phản ánh đời sống hạnh phúc, lạc quan cho tới những nỗi bất hạnh, tủi hờn trong cuộc sống. Nam nữ yêu nhau, người ta hay hát Lù tẩu để tâm sự và thề hẹn với nhau. Ngoài điệu Cứ xia, ngày cưới của người H’Mông thường không thể thiếu những đôi hát đối đáp nhau theo điệu Lù tẩu. Đặc điểm nổi bật của điệu hát này là câu hát thường dài, các âm thường hát dứt khóat, có nhiều điểm ngắt nhẹ. Khi hát, người ta cũng có thể sử dụng tra kênh (khèn) hoặc chiếc trà kò (nhị) để đệm theo.   

2.2. Nhạc cụ

Tra kênh (khèn bè)là một nhạc cụ hơi thổi, dùng trong tang ma và một số sinh hoạt giải trí khác. Nhạc cụ chỉ do nam giới sử dụng.

Tra kênh được cấu tạo từ 6 ống nứa kích thước không đều nhau sắp xếp thành hai hàng. Hai ống đầu tiên có chiều dài và cả kích cỡ khác nhau. ống bên trái dài khoảng 55cm, đường kính 4cm; ống thứ hai dài khoảng 85cm, đường kính 3cm; ống thứ ba dài khoảng 80cm, đường kính khoảng 2,7cm; ống thứ tư dài khoảng 72cm, đường kính tương đương ống thứ ba; ống thứ năm dài khoảng 65cm, đường kính 2,5cm; ống thứ sáu dài 54cm, đường kính tương đương ống thứ năm. Số đo này không được thống nhất cố định, những chiếc khèn ngay trong một bản cũng có kích cỡ và số đo các ống khác nhau. 6 ống được gắn lưỡi gà bằng kim loại đồng, cùng được đặt trong một bầu thân khèn. Trên mỗi ống có một lỗ bấm cao độ, 6 ống cho ra sáu cao độ khác nhau. Thân khèn được làm từ gỗ thông. Âm thanh của nhạc cụ này nghe vang, rền, khá độc đáo.

Nét độc đáo trong diễn tấu trà kênh là người ta vừa thổi khèn vừa nhảy. Vì thế, trong các lễ hội truyền thống các chàng trai thường hay được các cô gái chú ý khi tham gia trình tấu nhạc cụ này. Để trình diễn hay, người ta dành rất nhiều thời gian để tập luyện những bài khèn và múa khèn nhằm khẳng định mình mỗi khi diễn tấu trước mặt người khác, nhất là những chàng trai chưa có vợ. Ngày nay, nhạc cụ này còn được dùng để đệm cho những bài hát dân ca hay trong sinh hoạt văn nghệ quần chúng của đồng bào.

Trà plải là một loại sáo ngang, được chế tác từ một đoạn nứa già, khô có đường kính khoảng 2 đến 2,5cm, dài trung bình 50 đến 55cm, gắn lưỡi gà bằng kim loại đồng. Nhạc cụ này có 5 lỗ bấm cao độ, bịt các lỗ lại và nhả dần ra cho tới hết được 6 âm: d1-e1-f1-g1-a1-h1. Trà plải thường do nam giới độc tấu hoặc dùng để đệm cho hát trong những dịp vui của dân làng. Âm thanh của nhạc cụ này nghe trầm, ấm, sâu và vang.

Lìa dầu là một loại sáo dọc, được chế tác từ thân cây nứa có đường kính khoảng 2cm, chiều dài khoảng 55 đến 60cm. Nhạc cụ có cấu tạo 6 lỗ bấm cao độ, mỗi lỗ cách nhau khoảng 2,5cm. Lìa dầu thường do nam giới sử dụng sau những giờ làm việc mệt nhọc hoặc trong các dịp hội vui của bản làng với mục đích giải trí. Ngoài độc tấu, nhạc cụ này còn dùng để đệm cho hát. Âm thanh của lìa dầu nghe không sâu và vang như trà plải nhưng lại tạo ra những đặc sắc riêng bởi những chuỗi âm lúc đục lúc trong khi diễn tấu những điệu Cứ xia, Lù tẩu. 

Trà đà (đàn môi) là nhạc cụ tự thân vang, được cộng hưởng bởi khoang miệng, do nam giới sử dụng vào mục đích giải trí, trong sinh hoạt hàng ngày. Nhạc cụ này được chế tác bằng một mảnh kim loại đồng dát mỏng dần, phía trước cắt hình bầu dục, ở giữa cắt một lam dạng lưỡi gà hình tam giác. Đàn có chiều dài trung bình khoảng 14cm, chỗ rộng nhất khoảng 1.5cm. Đầu đàn xâu một sợi dây nhỏ để giữ đàn không rơi khi diễn tấu. Chiếc đàn được đưa vào hai môi, ngón tay cái và tay trỏ cầm đuôi đàn, ngón tay cái của bàn tay bên kia sẽ bật nhẹ vào đầu đàn, thân đàn rung và vang lên phát ra âm thanh cùng với những bồi âm nghe rất độc đáo. Âm thanh thực của đàn môi nghe nhỏ nhưng khá sâu. Cao độ phụ thuộc vào sự điều khiển khoang miệng của người diễn tấu.

Trà kò (nhị) là nhạc cụ dây, chi cung kéo. Trà kò chủ yếu do nam giới sử dụng trong sinh hoạt giải trí, không dùng trong tang ma và lễ thức tín ngưỡng khác. Thân đàn được làm bằng thanh gỗ, có đường kính trung bình khoảng 2cm, chiều dài thân khoảng 60cm. Trên đầu thân đàn có hai trục đàn. Bầu cộng hưởng được làm từ ống nứa già để khô, đường kính khoảng 13cm, dài 18cm. Một mặt được bưng một miếng da trăn, trên đó đặt một thanh tre nhỏ làm ngựa đàn cho hai dây đi qua. Mặt còn lại để thóat âm, không bưng. Đàn có hai dây kim loại thép, bắt từ trục đàn đi qua bầu cộng hưởng và chốt cố định ở phần cuối thân đàn. Hai dây cao độ hai dây đàn cách nhau một quãng 4 đúng. Cung kéo trà kò có chiều dài tương đương chiều dài của thân đàn. Dây cung trước đây được làm bằng lông đuôi ngựa hoặc ni lông. Bài bản mà trà cò chơi là những bài lấy từ âm điệu của hát Cứ xia và Lù tẩu.

Ngoài những nhạc cụ trên đây, trong đời sống âm nhạc dân gian của người H’Mông ở huyện Kỳ Sơn còn có chiếc trống lớn, sử dụng trong tang lễ. Cùng với tiếng tra kênh (khèn bè) thổi khi con người vừa tắt thở, người ta còn sử dụng chiếc trống để báo hiệu và tiễn biệt người chết.

 

III. Dân tộc Khơ Mú

 

1. Văn hóa và đời sống

Người Khơ mú, còn có tên gọi khác là người Xá Cẩu, Mứn Xen, Pu Thênh, Tềnh, Tày Hạy, thuộc ngữ hệ Môn- Khmer. Họ sinh sống ở các nước như: Lào, Myanma, Tây Nam Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam.

ở Việt Nam, người Khơ Mú có dân số khoảng 56.500 người, sống tập trung ở các tỉnh Nghệ An, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Yên Bái. ở Nghệ An, người Khơ mú hiện có 34.186 người chiếm trên 7% số dân tộc thiểu số trên toàn tỉnh (tính đến ngày 30/12/2007) và sống tập trung chủ yếu ở hai huyện miền núi Tây Nghệ An là Tương Dương và Kỳ Sơn.

Kinh tế

Người Khơ mú ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An sinh sống chủ yếu nhờ vào nương rẫy. Trong canh tác, họ biết xác định lịch riêng thích ứng với chu kỳ thời tiết. Cụ thể, cũng là lấy lịch âm theo lịch của người Việt, nhưng họ lại thực hiện các mùa vụ lúa nương sớm hơn âm lịch hai tháng. Vì thế, chu kỳ canh tác lúa nương được quy định khá chặt chẽ theo lịch của họ, nếu mau, chậm sẽ có ảnh hưởng tới năng suất của cây lúa nương2. Đất đai bạc màu, mùa màng phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên mà người dân chủ yếu sống nhờ vào nương rẫy nên cuộc sống của đồng bào Khơ mú ở đây còn khá nghèo. Trước đây, họ không lấy nghề chăn nuôi là nghề quan trọng trong phát triển kinh tế gia đình, mà họ chỉ nuôi để giết mổ trong những dịp lễ tiết quan trọng như cưới xin hoặc ma chay. Ngày nay, hoạt động chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm đã bắt đầu được đầu tư, nhưng còn chưa phát triển mạnh theo mô hình trang trại. Nguyên nhân là do điều kiện giao thông, việc tiêu thụ sản phẩm và vấn đề mua bán thức ăn gặp nhiều khó khăn.

Nhà ở

Người Khơ mú ở nhà sàn. Trong nhà được phân định nơi để ngủ và nơi để tiếp khách, đặt bàn thờ. Nơi ngủ nằm ở phía tay phải, tính từ cầu thang đầu hồi đi vào. Nghĩa là họ dành riêng phần để ngủ ở toàn bộ một bên dọc theo nhà sàn. Mục đích của việc phân định này mang một ý nghĩa về mặt tâm linh, đồng thời cũng để thuận tiện cho việc sinh hoạt, gọn gàng. Bàn thờ của người Khơ mú là nơi thờ tổ tiên. Người ta cũng thắp hương vào những ngày lễ tết. Ngôi nhà được nối liền với bếp bằng một gian nhỏ giống như một gian buồng. Cũng có gia đình tách hẳn bếp ra khỏi nhà. Nhà và bếp được nối với nhau bằng một khoảng sàn gỗ như chiếc sân nhỏ, vừa là để đi lại cũng vừa là chỗ để người ta chuẩn bị bữa cơm. Bếp của họ có diện tích nhỏ. Đối với người Khơ mú, đây vừa là nơi để đun nấu nhưng cũng còn bao hàm cả ý nghĩa tâm linh, vì họ coi bếp là nơi thần linh và tổ tiên thường xuyên ngự ở đó.

Trang phục

Trang phục truyền thống của người Khơ mú hiện nay đã có nhiều thay đổi. Trang phục nam chủ yếu theo kiểu cách của người Thái, hoặc có thiết kế gần giống trang phục của người Thái. Trang phục nữ mặc dù vẫn được đồng bào lưu giữ được một số bộ theo đúng truyền thống với hoa văn và họa tiết rất cầu kỳ, nhưng còn rất ít. Thay vào đó người ta cũng mặc trang phục của người Thái.

Theo truyền thống, chiếc áo của phụ nữ Khơ mú ở huyện Kỳ Sơn là loại áo ngắn, chất liệu vải là thổ cẩm dệt thủ công. Trên thân áo, người ta đính nhiều những mảnh kim loại và đồng tiền bạc cổ. Chiếc váy được nhuộm đen, có chiều dài gần tới mắt cá chân. Chiếc khăn cũng là một bộ phận không thể thiếu trong trang phục truyền thống của đồng bào. Họa tiết của khăn gồm nhiều màu sắc và gắn vào đó những đồng tiền bạc. Chiếc châm cài trên đầu người phụ nữ có chiều dài khoảng gần 20cm, tạo một nét riêng rất độc đáo. Ngày nay, chúng ta còn được tiếp cận với những bộ trang phục này ở các cụ cao tuổi. Họ chỉ mặc vào những ngày lễ hội, đám cưới hay những sinh hoạt văn hóa truyền thống. Lớp trẻ trong lao động hàng ngày họ chủ yếu mặc Âu phục.

Cưới hỏi

Đám cưới của đồng bào Khơ mú ở huyện Kỳ Sơn hiện nay cơ bản được tổ chức theo ba bước: gặp mặt, thủ tục xin cưới (ăn hỏi) và tổ chức cưới chính thức. Hôm trước khi tổ chức đám cưới, nhà trai mang lễ cưới sang nhà gái. Lễ vật gồm trầu cau đi cùng với 1 tạ lợn, tiền, một bộ váy, một chiếc khăn và một chiếc dây thắt lưng. Những đồng tiền này là của cậu (người em ruột mẹ) và bố mẹ chú rể mang sang để làm lễ cúng tổ tiên bên nhà gái. Trong ngày cưới, các hoạt động diễn ra rất sôi nổi, như ăn, uống rượu cần và hát Tơm đối đáp giao duyên. Trước đây, người Khơ mú ở huyện Kỳ Sơn còn phong tục ở rể, sau một năm người con rể này mới đưa vợ về nhà mình. Ngày nay. do điều kiện kinh tế phát triển, những gia đình có điều kiện thường xây hoặc dựng nhà gỗ cho con trước khi tổ chức hôn lễ.

Tang ma

Khi trong gia đình có người chết, người Khơ mú thông báo cho anh em trong họ lo chuyện hậu sự. Người chết sẽ nằm trong nhà một ngày, sau đó chọn giờ tốt làm lễ nhập quan tài. Khi chuẩn bị đưa thi hài người chết vào trong quan tài, ông thầy cúng còn cho bắt một con gà rồi đập chết cho vào trong quan tài. Theo quan niệm của họ, con gà sẽ giúp chỉ đường, chỉ hướng cho linh hồn về với tổ tiên của họ. Cùng lúc con cái trong gia đình chít khăn tang màu trắng, riêng con gái đã lấy chồng thì không được chít, vì khi đã đi lấy chồng thì người con gái đã là con của nhà khác. Trong ngày tổ chức tang lễ, người ta mổ trâu, mổ lợn để tỏ lòng tôn kính và hiếu thảo. Người Khơ mú ở huyện Kỳ Sơn không tổ chức cúng giỗ hàng năm mà thay vào đó, trong các dịp lễ tết người ta đi thăm mộ để tưởng nhớ tổ tiên.

Lễ hội

Người Khơ mú ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An có nhiều lễ hội gắn với lao động và sinh hoạt tâm linh của con người như Lễ cúng bản tổ chức vào khoảng trung tuần từ tháng Bảy tới tháng Tám, lễ đặt tên cho trẻ khi mới ra đời, đặc biệt là lễ hội Pa Sưm - một nghi thức lớn diễn ra trước khi người Khơ mú thực hiện tra hạt trên nương rẫy.

Đây là nghi thức cầu cúng tổ tiên, thần linh phù hộ cho mùa màng được bội thu. Chủ tế là người phụ nữ trong nhà. Người này sẽ đóng vai trò là mẹ lúa, tượng trưng cho sự sinh sôi, nảy nở. Mẹ lúa sẽ dọn một khoảng đất trên rẫy rộng khoảng 2m2, sau đó đặt lễ vật lên, gồm sôi, rượu, muối và một con gà trống lông đen đã làm sạch sẽ và luộc chín. Mẹ lúa sẽ cầu khấn thần Trời làm cho mưa thuận gió hòa, thần Đất và thần Nương rẫy làm cho hạt thóc mau nảy mầm và nhanh trưởng thành, bông to, hạt to và muông thú không phá hoại. Sau khi mẹ lúa làm lễ xong, mọi người bắt tay vào tra hạt. Tra hạt xong, mẹ lúa làm một nghi lễ nữa gọi là tưới nước mới để kết thúc nghi lễ. Lễ tra hạt là một lễ tục nông nghiệp quan trọng của người Khơ mú nơi đây, nó phản ánh niềm tin vào vào các vị thần linh giúp cho họ có được mùa thu hoạch bội thu.

2. Âm nhạc dân gian

2.1. Dân ca

Cho tới thời điểm này người Khơ mú ở xã Hữu Kiệm, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, đang còn lưu truyền ba điệu hát: Ly con, Tơm và Rer ré.

Ly con (Ru con)là điệu hát gắn bó mật thiết với tuổi thơ của người Khơ mú. Nội dung của những bài Ly con là những gì gần gũi nhất trong đời sống của người dân Khơ mú, từ những sinh hoạt trong lao động cho tới cảnh vật thiên nhiên xung quanh, thuần phong mỹ tục của cha ông. Người ta có thể ru con trên võng trong nhà, trên nương rẫy, những cũng có khi họ ru con ngủ ngay cả khi địu con trên lưng, khi đang làm.

Hát Tơm có hai hình thức hát là một người hoặc hát đối đáp hai người, cũng có khi là đối đáp tập thể, nhưng trường hợp này ít hơn. Trong đám cưới, hát Tơm thường được các đôi trai gái hát ở hình thức đối đáp. Tuy nhiên, hình thức hát một người vẫn là phổ biến nhất. Thông qua điệu hát này, người ta có thể giãy bày tâm tư, tình cảm hay những cảm xúc vui buồn. Người già thì mượn giai điệu của bài Tơm để giáo dục, truyền đạt những kinh nghiệm sống cho con trẻ. Vào những ngày lễ tết, hay những dịp hội vui của làng, những cụ cao tuổi thường hát những bài hát thể hiện sự cầu xin thần linh về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Có thể nói Tơm có vai trò đặc biệt trong đời sống sinh hoạt và giải trí của đồng bào Khơ mú. Người ta không hát Tơm trong tang ma và trong một số nghi thức cúng lễ khác. Khi hát, người ta thường đệm theo tót tơm (sáo dọc).

Rer ré là điệu hát có tính chất tín ngưỡng, chỉ sử dụng trong ngày lễ về nhà mới của người Khơ mú. Người ta hát Rer ré ngay ở phần mở đầu của buổi lễ mừng nhà mới. Điệu hát này được hát dưới hình thức đối đáp hai người: một người nam và một người nữ. Thông thường hai người này đều là trung niên hoặc cao tuổi. Họ có thể là người lớn trong gia đình, họ hàng cũng có khi là người ngoài được mời tới. Nội dung của bài hát là những lời cầu nguyện những điều tốt lành về cuộc sống, và những lời cảm ơn thần linh phù hộ cho gia đình làm ra kinh tế và tiền bạc để xây dựng nên ngôi nhà này. Khi hát, người ta sử dụng một chiếc trống và ba chiếc chiêng đệm theo, đồng thời phối hợp với một số điệu múa.

 2.2. Nhạc cụ

Tót tơm là một trong những loại sáo dọc đặc trưng của người Khơ mú, được chế tác từ phần ngọn của một thân cây nứa nhỏ, có chiều dài khoảng 55cm, đường kính phần cuối sáo khoảng 1 đến 1.5cm và thon nhỏ dần cho tới phần đầu là khoảng 0,6cm. Tại phần nhỏ này, người ta tạo lưỡi gà bằng cách khía và tách ngay một lát nứa mỏng có chiều dài khoảng 2,5cm và chiều rộng khoảng 0,3cm. Tót tơm có 4 lỗ bấm cao độ, trong đó 3 lỗ trên mỗi lỗ cách nhau chừng 3cm, 1 lỗ dưới nằm ngay ở phần lỗ đầu tiên cách nhau khoảng 4cm. Lỗ bấm này do ngón tay cái điều khiển. Âm thanh của loại sáo này không trong mà hơi khàn khàn. Ngoài dùng để độc tấu, Tót tơm được sử dụng phổ biến để đệm theo giai điệu của những bài Tơm. Tót tơm do nam giới sử dụng, không dùng trong tang lễ và các lễ tục tín ngưỡng khác.

Th’roông (đàn môi) của người Khơ Mú được làm từ một thanh tre hoặc nứa già để khô. Chiều dài của chiếc đàn này khoảng 14cm, phần rộng nhất của thân đàn khoảng 1,5cm. Hình dáng chiếc đàn này cơ bản giống với những chiếc đàn môi bằng kim loại đồng của nhiều dân tộc thiểu số khác. Do đó, hình dáng khi chế tác và phương pháp diễn tấu giữa chúng là giống nhau. Khi biểu diễn, âm thanh của chiếc đàn môi này không vang sâu như những chiếc làm từ kim loại mà nó hơi khàn khàn, cộng với tiếng lách cách của thanh tre tạo ra sự độc đáo riêng. Đàn môi cũng là nhạc cụ không dùng cho mục đích tín ngưỡng. Nhạc cụ này chủ yếu do nam giới sử dụng, dùng độc tấu, đôi khi dùng đệm cho hát trong những dịp hội vui của buôn làng nhằm mục đích giải trí.

Tót mu (sáo mũi) được làm từ thân cây nứa già, nhỏ, có chiều dài trung bình khoảng 60cm, đường kính từ 2 đến 2,5cm. Sáo chỉ có một lỗ duy nhất nằm cách cuối thân sáo khoảng 2cm, lúc thổi cho ra hai cao độ khác nhau. Khi nghe, ta sẽ được nghe một cuộc “đối đáp” giữa hai loại âm thanh: một phát ra từ cây sáo và một là những lời hát phát ra từ miệng người biểu diễn. Người ta thổi tót mu theo giai điệu của những bài ru con, hoặc giai điệu của bài Tơm. Tót mu sử dụng trong sinh hoạt giải trí, không dùng trong các nghi lễ tín ngưỡng.

Đao đao là nhạc cụ tự thân vang, được làm bằng một ống nứa có đường kính trung bình từ 3 đến 4cm, chiều dài khoảng 40 đến 50cm. Phần đầu của nhạc cụ, người ta khoét và cắt hai miếng đối xứng nhau dài khoảng 20cm. Khi diễn tấu, tay phải sẽ cầm phần dưới của nhạc cụ đập phần đầu của nhạc cụ vào lòng bàn tay, âm thanh vang lên từ đó. Tiết tấu của đao đao tạo nhịp cho các bước đi kết hợp với động tác của đôi bàn tay, của cơ thể tạo thành một điệu múa truyền thống mang đặc trưng riêng của đồng bào Khơ mú. Khi diễn tấu, người ta có thể dùng chiêng và trống đệm theo.

Ngoài những nhạc cụ trên, đồng bào Khơ mú còn có trống, chiêng và não bạt. Trống của người Khư mú ở đây chỉ có một loại trống lớn, chiều cao khoảng 55cm, đường kính khoảng 50cm. Chiêng của họ thường dùng ba chiếc loại có núm. Ngoài ra còn một chiếc não bạt bằng nhôm. Những nhạc cụ này được sử dụng trong sinh hoạt giải trí và những lễ hội truyền thống của bản làng.

 

Kết luận và kiến nghị

 

Ba dân tộc Thái, Khơ mú, H’Mông ở một số xã thuộc huyện Con Cuông, Tương Dương và Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An cho tới thời điểm này còn bảo tồn và lưu giữ được nhiều vốn văn hóa truyền thống độc đáo của họ, từ nhà ở, trang phục cho tới các phong tục tập quán và sinh hoạt nghệ thuật biểu diễn truyền thống.

Đặc biệt, các hình thức sinh hoạt âm nhạc và múa dân gian hiện vẫn được các cụ và các bác lớn tuổi bảo tồn và phát huy trong các sinh hoạt văn hóa của thôn bản. Tuy nhiên, lớp trẻ đang có xu hướng quay lưng lại với nghệ thuật truyền thống, thay vào đó là các loại hình sinh hoạt âm nhạc và nghệ thuật đương đại. Vì thế, vị trí và vai trò của âm nhạc dân gian truyền thống bị mất dần trong đời sống sinh hoạt văn hóa văn nghệ của đồng bào ba dân tộc. Trước thực trạng trên, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau:

Một là, Nhà nước ta cần quan tâm và đầu tư cho công tác sưu tầm, bảo tồn để phát huy và quảng bá vốn di sản âm nhạc dân gian truyền thống của các tộc người. Công việc này cần được bắt đầu bằng việc thống kê toàn bộ vốn âm nhạc và múa dân gian ở địa phương; tiếp theo đó là tổ chức và triển khai việc học tập và truyền dạy vốn di sản này.

Hai là, bên cạnh việc thống kê, bảo tồn và truyền dạy, ngành văn hóa từ trung ương tới địa phương cần thường xuyên tổ chức các cuộc thi chuyên về âm nhạc dân gian các dân tộc trên đất nước ta. Cùng với đó, trong các hội thi nghệ thuật quần chúng ở các địa phương cần khuyến khích các nghệ nhân, đặc biệt là các bạn trẻ trình diễn các bài dân ca, các nhạc cụ cổ truyền và những điệu múa dân gian truyền thống của dân tộc họ. Thông quá đó để tuyên truyền giáo dục cho người dân và thế hệ trẻ thấy được diện mạo văn hóa nghệ thuật truyền thống của họ và giá trị của nó trong đời sống của chính họ.

Ba là, công tác bảo tồn cần gắn với công tác chăm sóc và chính sách ưu đãi đối với các nghệ nhân. Trong ba vấn đề này, thực ra đây lại là vấn đề quan trọng nhất trong công tác bảo tồn. Vì bảo tồn di sản phi vật thể là bảo tồn, khai thác và phát huy người đang nắm giữ di sản. Do đó, chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân là một trong những hành động thiết thực và nhân văn nhất đối với việc phát huy vốn di sản truyền thống của dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay. Quan trọng nhất ở đây là chúng ta cần nhanh chóng mời các cụ và các bác nghệ nhân tham gia truyền dạy cho thế hệ trẻ những gì mà họ đang nhớ và nắm giữ.

Bốn là, trong các trường nghệ thuật, nhất là những trường nghệ thuật tại địa phương cần có kế hoạch nghiên cứu và tuyển chọn những di sản âm nhạc truyền thống độc đáo tại địa phương, tỉnh mình đưa vào giảng dạy trong nhà trường.

 



1. Theo Bách khoa thư mở Wikipedia

2. Theo Văn hóa Nghệ An: www.vanhoanghean.vn

Thêm một trao đổi