03-09-2014, 18:24

ĐIỀN DÃ, SƯU TẦM ÂM NHẠC DÂN GIAN
CÁC DÂN TỘC GIẺ-TRIÊNG, BRÂU, XƠ ĐĂNG TỈNH KON TUM

(THUỘC CHƯƠNG TRÌNH DỰ ÁN  “H TR VĂN HÓA VIT NAM
V
Ì S PHÁT TRIN BN VNG 2005-2009” DO QUỸ SIDA – THỤY ĐIỂN TÀI TRỢ)


HO
ÀNG ANH THÁI – T QUANG ĐNG

 

Chỉ đạo thực hiện:

TS. Lê Văn Toàn - Viện trưởng Viện Âm nhạc

Chủ nhiệm dự án:

Tạ Quang Động

Nhóm nghiên cứu:

Tạ Quang Động - Hoàng Anh Thái

Nhóm thu thanh, ghi hình:

Đạo diễn: NSƯT Nguyễn Kha

Quay phim: Võ An Khánh, Nguyễn Quốc Hân

Thu thanh: Nguyễn Anh Dũng, Nguyễn Trọng Hào

Chụp ảnh: Nguyễn Ngọc Long

Kỹ thuật:

Nguyễn Trần Khánh, Đinh Việt Thắng, Đặng Bá Oánh, Nguyễn Trọng Anh

Cán bộ phối hợp phía tỉnh Kon Tum:

Phạm Cao Đạt - Chuyên viên nghiên cứu Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Kon Tum

Võ Đông - Cán bộ văn hóa huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum

Hoàng Huy Quyền - Cán bộ văn hóa huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum

A Sơn - Cán bộ văn hóa huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum

Lê Hồng Công - Cán bộ văn hóa huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum

Dân tộc và địa điểm khảo sát:

Dân tộc Giẻ-Triêng, làng Đăk Răng, xã Đăk Dục, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum

Dân tộc Brâu, làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum

Người Xơ đăng (nhóm M’nâm), làng Kon Pring, xã Đăk Long, huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum

Thời gian tiến hành: Tháng 10-12 năm 2007

 

I. Đôi nét về địa lý, dân cư dân tộc ít người tỉnh Kon Tum

Kon Tum là tỉnh nằm ở cực Bắc Tây Nguyên, tại ngã ba Đông Dương, nơi tiếp giáp với hai nước bạn Lào và Campuchia. Phần lớn lãnh thổ của tỉnh nằm trên dãy Trường Sơn với đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 mét, được coi là “nóc nhà của Tây Nguyên”. Đây là nơi khởi nguồn của hệ thống sông Pô Kô, Sê San đổ ra sông Mêkông. Vùng đất này là nơi Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây gặp nhau, nơi nắng và mưa giao hòa đã tạo nên những cảnh quan thiên nhiên độc đáo và đầy quyến rũ như: hồ Yaly, vườn quốc gia Chư Mom Ray, rừng đặc dụng Đắc Uy, khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, thắng cảnh Măng Đen. Nơi đây không chỉ là quê hương của sử thi, của nghệ thuật điêu khắc tượng gỗ phong phú mà còn ẩn chứa một kho tàng nghệ thuật dân gian vô cùng hấp dẫn với những làn điệu dân ca trữ tình, những nhạc cụ tre nứa độc đáo, những điệu múa uyển chuyển say mê lòng người.

Kon Tum có trên 20 dân tộc, trong đó có 6 dân tộc bản địa sinh sống lâu đời là Xơ đăng, Ba na, Giẻ-Triêng, Giơ rai, Rơ măm và Brâu. Ngoài ra là các dân tộc khác di cư đến sau và cùng sinh sống như: H’rê, Mường, Tày, Nùng, Thái, Sán chay, Sán dìu… Bên cạnh những nét tương đồng thì mỗi dân tộc nơi đây lại có những sắc thái riêng được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày, trong sinh hoạt tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn hóa nghệ thuật.

 1.    Dân tộc Giẻ-Triêng (nhóm Triêng)

Người Giẻ-Triêng còn có các tên gọi khác: Đgiéh, Ta reh, Giảng rây, Pin, Triêng, Treng, Ta liêng, Ve, La-Ve, Bnoong, Ca yang. Người Giẻ-Triêng có khoảng 27.000 người, sinh sống tại tỉnh Kon Tum, miền núi tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.

Người Giẻ-Triêng ở làng Đăk Răng, xã Đăk Dục, huyện Ngọc Hồi có 69 hộ, 335 người, hầu như là người Triêng (chỉ có một người thuộc nhóm Giẻ). Người Giẻ-Triêng sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy và chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà.

Thường thì các nhà trong làng của người Giẻ-Triêng được xếp thành hình tròn xung quanh nhà rông. Họ ở nhà sàn dài, có hành lang chạy dọc, chia đôi một nửa dành cho nam giới, nửa kia dành cho phụ nữ. Hiện nay, người Giẻ-Triêng ở Kon Tum làm nhà sàn ngắn và vài hộ gia đình cùng chung sống với nhau. Những nhà này cũng có những đặc trưng mái hình mai rùa, hai đầu đốc được trang trí bằng hai sừng trâu.

Nam giới để tóc ngắn, mang khố. Thân và các mép khố được viền và trang trí hoa văn ở hai đầu trên nền chàm. Trong các dịp lễ Tết, họ quàng chéo qua vai tấm vải rộng màu chàm có các sọc trang trí, cổ đeo vòng. Phụ nữ Giẻ-Triêng tóc quấn sau gáy, đeo vòng tay, vòng cổ, mặc váy. Đầu váy, giữa thân và gấu váy được trang trí các sọc hoa văn màu đỏ trên nền chàm.

Theo tục lệ cũ, con trai khoảng 10 tuổi bắt đầu ngủ đêm tại nhà rông, khoảng 13-15 tuổi thì cà răng và sau đó vài ba năm sẽ lấy vợ. Con gái chủ động trong việc hôn nhân của mình và sự lựa chọn của con cái được cha mẹ tôn trọng. Trước khi đám cưới chính thức (chê chà) diễn ra, người Triêng có làm đám cưới chuột (ta vi reng), là lễ để ra mắt hai bên gia đình, như một đám dạm hỏi. Đám cưới chính thức được tổ chức ở cả hai bên, nhà trai trước rồi sau đó mới làm ở nhà gái. Nhà gái chuẩn bị rượu, nhưng củi là chủ yếu, đưa sang nhà trai làm lễ vật. Bên nhà trai cũng có thịt chim, chuột, bò, heo, gà phơi khô làm lễ vật để biếu lại nhà gái. Nhà gái gùi đồ lễ về và tổ chức cưới tại nhà mình. Sau đám cưới chàng rể phải về nhà vợ ở.

Khi chết, người Giẻ-Triêng được chôn trong quan tài độc mộc, có đẽo tượng đầu trâu.

Hàng năm, người Giẻ-Triêng có một số nghi lễ gắn với mùa màng như  nghi lễ cất lúa vào kho sau khi mùa màng đã thu hoạch xong (khoảng tháng 10, tháng 11) hoặc lễ ăn trâu để mừng vụ mùa thắng lợi v.v…

 2. Dân tộc Brâu

Dân tộc Brâu có khoảng hơn 300 người, chỉ cư trú trong làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.

 Người Brâu đã bao đời sống du canh du cư. Họ chủ yếu đốt rừng làm rẫy trồng lúa nếp với phương thức sản xuất cổ truyền (phát, đốt, chọc, tỉa) và bằng các công cụ thô sơ như­: rìu, rựa và chiếc gậy chọc lỗ tra hạt nên năng suất cây trồng thấp. Bây giờ, họ đã chuyển dần sang trồng lúa nước. Chăn nuôi là một hoạt động sản xuất kinh tế đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Brâu. Các con vật nuôi thường là lợn, gà, chó, nhưng chủ yếu để dùng vào những dịp lễ hội.

Người Brâu sống tập trung thành làng, gọi là Srúk. Chính giữa Srúk có nhà rông. Vây quanh nhà rông là các nhà sàn dài của từng đại gia đình. Nhà có từ 2 đến 4, 5 gian tùy theo điều kiện của từng gia đình. Mái nhà lợp lá, vách thưng bằng những tấm đan từ cây lồ ô. Cửa chính của nhà phải hướng về phía nhà rông. Hiện nay, nhiều gia đình đã chuyển từ nhà sàn sang ở nhà đất giống người Kinh.

Theo tục lệ cũ nam giới ở trần, đóng khố (cha nai), phụ nữ để mình trần, mặc váy (tu) hở, quấn quanh thân. Thân váy được xử lý mỹ thuật ở phần đầu váy và chân váy với lối đáp các miếng vải khác màu có các sọc đen đơn giản chạy ngang. Hiện nay, họ để tóc dài hoặc cắt ngắn, mặc áo chui đầu, cộc tay, khoét cổ, đeo nhiều vòng trang sức (chuỗi hạt cườm ngũ sắc, hoặc vòng đồng, bạc) ở tay chân và cổ. Còn nam giới mặc quần áo giống người Kinh.

Thanh niên nam nữ Brâu đ­ược tự do lấy vợ, lấy chồng. Nhà trai  phải nộp lễ vật cho nhà gái để hỏi vợ và đám c­ưới thì tiến hành tại nhà gái. Sau lễ kết hôn, chàng rể sẽ ở lại nhà vợ khoảng vài năm rồi mới đ­ược làm lễ đư­a vợ về ở hẳn nhà mình.

Khi trong nhà có người chết, gia đình nổi trống chiêng để báo tin. Thi hài được liệm trong quan tài độc mộc. Sau khi chôn xong, người ta để trong nhà mồ một số vật dụng cho người chết như ché, gùi, dao, rìu... (các đồ vật này đều bị bẻ gẫy, chọc thủng, làm sứt mẻ) được coi là của cải gia đình cho ng­ười chết.

Trong một năm, người Brâu có 3 lễ chính liên quan đến quá trình sinh trưởng của cây lúa rẫy. Từng gia đình tổ chức lễ Pimưr (phát rẫy) tại rẫy vào tháng 2 dương lịch. Lễ Dam u truôi (lễ chọc tỉa) cũng do từng gia đình làm tại rẫy vào tháng 4 dương lịch. Lễ O’hăn đơm (lễ ăn lúa mới) được tổ chức hai lần: lần thứ nhất là khi lúa sắp chín (tháng 9), lần thứ hai là khi cất lúa vào chòi (tháng 10). Cả hai lễ này đều được tổ chức tại làng. Sau lễ cúng cả làng phải “nội bất xuất, ngoại bất nhập” trong 2 ngày và đặc biệt kiêng không tắm vì người Brâu quan niệm nếu tắm sẽ bị chim, chuột, sóc ăn lúa, heo rừng phá rẫy. Lễ vật trong lễ cúng thường là lợn, gà, trâu, bò. Người Brâu không dùng thịt chó, vịt làm đồ cúng.

3. Dân tộc Xơ đăng (nhóm M’nâm)

Dân tộc Xơ đăng có số dân đông nhất tỉnh Kon Tum. Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.

Người Xơ đăng (nhóm M’nâm) ở làng Kon Pring, xã Đăk Long, huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum có 45 hộ, 192 khẩu. Nhóm M’nâm làm ruộng nước nhưng không cày bừa mà lại dùng sức trâu, sức người để giẫm nát đất. Họ trồng một vụ lúa, ngoài ra trồng thêm loại hoa màu khác như: ngô, sắn. Chăn nuôi cũng là hoạt động sản xuất có tầm quan trọng. Đồng bào thường nuôi các loại gia súc gia cầm như: trâu, bò, lợn, dê, gà theo phương thức thả rông gần nơi cư trú hay trong rừng. Con trâu được coi là tài sản quí nên thường dùng làm vật trao đổi, tặng cho con cái hoặc dùng làm vật hiến sinh trong các nghi lễ cúng tế. Đánh bắt cá, săn muông thú trong rừng vẫn có vai trò nhất định đối với đời sống kinh tế gia đình. Ngoài ra, họ còn có một số nghề thủ công như đan lát, mộc, dệt, rèn...

Mỗi làng Xơ đăng có một nhà rông, nó là nơi diễn ra các sự kiện quan trọng của buôn làng; nơi tập hợp, hội họp; nơi thực hiện các nghi lễ của cộng đồng và là nơi các thế hệ nghệ nhân già truyền đạt lại cho thế hệ trẻ những giá trị văn hóa truyền thống v.v… Nhà rông là ngôi nhà lớn nhất của buôn làng, có mái nhọn xuôi dốc và được dựng trên tám cột, thường làm từ những cây đại thụ, thẳng, chắc. Trên những vì kèo được trang trí hoa văn, thú vật được cách điệu, những cảnh sinh hoạt gần gũi với cuộc sống buôn làng.

Trong năm, người Xơ đăng có các lễ cúng như: Kâng via (làm chuồng trâu), Ka mo neu (ăn lúa mới), M’há (cầu nước). Lễ Kâng via được tổ chức khoảng từ tháng 1 đến tháng 2 hàng năm. Theo phong tục, họ làm chuồng trâu trên một khoảng đất gần ruộng. Khi mưa xuống phân sẽ trôi theo nước để bón cho ruộng đồng. Lễ này được tổ chức cúng trong nhà sau đó đánh cồng chiêng bài Chuồng trâu. Vào tháng 12, sau khi thu hoạch lúa xong, người Xơ đăng tổ chức lễ Ka mo neu ở trong nhà. Lễ vật gồm có cơm, lợn, gà. Trong lễ này, người Xơ đăng có sử dụng cồng chiêng và soang (múa). Lễ M’há (cầu nước) được diễn ra cạnh con suối to nhất mà làng hay dùng. Tại máng nước, họ cắt tiết gà nhỏ lên nguồn nước. Mỗi hộ gia đình hứng lấy một ít nước mang về làng nấu cơm.

Người Xơ đăng thích hát múa, tấu chiêng cồng, chơi đàn, kể chuyện cổ. Đàn ông không chỉ có tinh thần thượng võ, mà còn tài nghệ trong kiến trúc, điêu khắc và hội họa, tạo nên những sản phẩm tiêu biểu, đó là ngôi nhà rông và cây nêu trong lễ đâm trâu.

 

II. Một số hình thức sinh hoạt âm nhạc
và múa dân gian các dân tộc Giẻ -Triêng
(nhóm Triêng), Brâu, Xơ đăng (nhóm M’Nâm)

 

1.    Dân tộc Giẻ-Triêng (nhóm Triêng)

Dân ca:

Người Triêng có một số làn điệu dân ca như Dư chầu (hát ru), Tam prai (hát trong khi dệt vải), Nêng rẹt (hát trong đám cưới). Nêng rẹt là hình thức hát đối đáp giữa Nêng (mẹ cô dâu) và Rẹt (bố chú rể). Hai người đại diện cho nhà gái và nhà trai, hát chúc cho người già sống lâu, chúc cô dâu chú rể hạnh phúc, thuận hòa, có cuộc sống đầy đủ, có nhiều thóc, nhiều lúa. Điểm đặc biệt của lối hát này là thường đem lại tiếng cười vui vẻ, xen lẫn những lời chúc, lời khen là những câu trêu đùa vui nhộn.

Nhạc cụ:

Nhạc cụ của người Triêng khá đa dạng, gồm có nhạc cụ màng rung (trống h’gơr, pa thân), nhạc cụ hơi (gor, đơl đô, ta lun, ta lin, brưl, ta lẹh, đinh tút, khèn, ka jol), nhạc cụ tự thân vang (chiêng, lột, rinh) và nhạc cụ dây (m’bin, m’bin puil, ong eng).

H’gơrlà một cặp trống khá lớn. Thân trống được làm từ một khúc gỗ liền có chiều dài 101cm, ở giữa phình to và thuôn nhỏ về hai đầu. Mặt lớn được bưng bằng da bò, có đường kính là 33cm; mặt nhỏ được bưng bằng da sơn dương, có đường kính là 30cm. Dọc theo tang trống, người ta sử dụng dây mây để giữ căng hai mặt da của trống. Trước khi chơi, người ta hơ mặt trống vào lửa để điều chỉnh cao độ của 2 mặt trống. Hai mặt của một trống thường được chỉnh âm cách nhau khoảng một quãng 5 và hai trống đó có cao độ cách nhau khoảng một quãng 2. Cụ thể cao độ của hai trống sau khi đã chỉnh âm là: C - G và D - A (cao độ này có thể hơi non hoặc hơi già một chút, bởi vì khi vừa hơ lửa thì mặt trống căng lên và để càng lâu thì mặt trống càng trùng đi). Như vậy, người Triêng đã không chỉ sử dụng trống đơn giản như một nhạc cụ đệm tiết tấu mà họ còn quan tâm đến cao độ của nhạc cụ này. Dùi trống được làm bằng gỗ, đầu gõ có bọc vải để tạo cho âm sắc ấm hơn, chiều dài của dùi trống là 45cm.

Khi diễn tấu, trống được treo trên xà nhà rông. Mỗi người sử dụng một trống, một tay giữ, một tay dùng dùi gõ. Âm thanh của h’gơr rất mạnh mẽ, có khả năng vang vọng khắp núi rừng. H’gơr là  nhạc cụ kiêng kỵ, chỉ được sử dụng khi có lễ hội, do nam giới sử dụng và không bao giờ mang ra khỏi nhà rông.

Pa thân là loại trống hai mặt làm bằng da bò, có đường kính 23cm. Tang trống được làm từ một khúc gỗ liền dài 65cm, ở giữa phình to và thuôn nhỏ về phía hai đầu. Dọc theo tang trống, người ta sử dụng dây mây để giữ căng hai mặt da của trống. Khi diễn tấu, trống được đặt ngang trước bụng ở dưới rốn, có dây đeo qua gáy và dùng hai bàn tay để vỗ vào hai mặt trống. Pa thân là nhạc cụ dành cho nam giới và thường được dùng để hòa tấu với dàn chiêng, để đệm cho múa trong các dịp vui của cộng đồng.

Gorlà nhạc cụ hơi, chi lưỡi gà rung tự do. Gor được làm bằng một ống nứa nhỏ có đường kính lòng ống là 1,2cm, có chiều dài là 96cm, một đầu rỗng, một đầu có mấu. ở đầu có mấu, người ta khoét một lỗ thổi hình chữ nhật và có gắn lưỡi gà làm bằng tre. Trên thân sáo chỉ có một lỗ bấm nằm cách đuôi sáo 20cm. Nhạc cụ này dành cho nam giới sử dụng độc tấu trong sinh hoạt hàng ngày.

Đơl đô là loại sáo thổi ngang, chi lỗ vòm. Sáo được chế tác từ một ống nứa dài khoảng 90cm, hai đầu rỗng và chỉ có một lỗ thổi nằm ở giữa thân sáo. Khi diễn tấu, người thổi điều khiển âm thanh bằng cách dùng lòng bàn tay phải bịt mở ở một đầu ống để tạo ra những cao độ khác nhau. Nhạc cụ này dành cho nam giới sử dụng độc tấu trong sinh hoạt hàng ngày.

Ta lun là loại sáo thổi dọc, chi lỗ vòm. Sáo được chế tác từ một ống nứa dài  64cm, một đầu có mấu, một đầu rỗng. Trên thân sáo có 3 lỗ bấm tạo cao độ. Thang âm của ta lun: c1 (non) - d1 - es1 - f1 - g1 - c2. Ta lun là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng. Nó có thể được dùng để độc tấu, hòa tấu hoặc đệm cho hát.

Ta lin là loại sáo thổi dọc, chi lỗ vòm. Sáo được chế tác từ một ống nứa dài  26cm, một đầu có mấu, một đầu rỗng. Trên thân sáo có 4 lỗ bấm tạo cao độ. Thang âm của ta lin: d2 - f2 - g2 - h2 (non) - des3. Ta lin là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng. Nó có thể được dùng để độc tấu, hòa tấu hoặc đệm cho hát.

Ta lẹh là loại sáo thổi ngang và chỉ có một lỗ thổi nằm ở giữa thân sáo. Ta lẹh được chế tác từ một ống nứa dài khoảng 70cm, hai đầu đều rỗng. Khi diễn tấu, người thổi điều khiển âm thanh ở một đầu bằng cách dùng lòng bàn tay phải bịt mở đầu ống để tạo những cao độ khác nhau. Ta lẹh là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng, dùng để độc tấu, đệm cho hát trong sinh hoạt hàng ngày trong hoặc trong những ngày lễ, ngày vui của gia đình, cộng đồng.

Đinh tút là nhạc cụ hơi thổi gồm 6 ống nứa dài ngắn khác nhau, mỗi ống cho một cao độ. Chiều dài các ống từ 60cm - 105cm, đường kính khoảng 3cm. Các ống đinh tút có cấu tạo khá đơn giản, một đầu rỗng để thổi và một đầu có mấu kín. Đầu thổi được khoét vát hai bên tạo thành hình bán nguyệt để khi diễn tấu môi dưới của người thổi ôm khít vào một bên miệng ống. Để chơi đinh tút cần phải có 6 người, mỗi người thổi một ống. Đinh tút là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng.

Khêl là nhạc cụ hơi thổi, chi lưỡi gà rung tự do (nhạc cụ này có cấu tạo tương tự như khèn bè của người Thái). Nhạc cụ này gồm 14 ống nứa tép ghép thành hai hàng song song. Các cặp ống song song có chiều dài bằng nhau. ở các đoạn ống nứa nằm phía trong của bầu thổi có gắn một lưỡi gà bằng đồng. Lỗ bấm tạo âm thanh được khoét gần chỗ bầu thổi, sao cho phù hợp với vị trí ngón tay của người diễn tấu. Sau khi xuyên các ống qua bầu thổi bằng gỗ, người ta lấy sáp ong đen miết kín các kẽ hở. Khi diễn tấu, mỗi bàn tay ôm vào một bên hàng ống, hai ngón cái của hai tay đảm nhiệm lỗ bấm của hai ống dài nhất, ngón tay tiếp theo ống ngắn hơn và ngón út ống ngắn nhất. Khêl là loại nhạc cụ đa thanh, âm vực hơn một quãng 8, kỹ thuật diễn tấu linh hoạt. Khêl là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng. Nó được dùng để độc tấu, hòa tấu và đệm cho hát.

Ka jơl là nhạc khí hơi thổi, chi lưỡi gà rung tự do. Ka jơl đươc làm bằng sừng sơn dương có chiều dài khoảng 15cm, một đầu hở. Lưỡi gà được làm bằng tre và gắn ở vị trí 1/4 về phía đầu nhỏ của chiếc sừng. Khi trình diễn, người ta đặt ka jơl ngang miệng và ngậm vào nơi đặt lưỡi gà, tay trái giữ sáo, tay phải vỗ nhẹ vào miệng sừng tạo ra những âm thanh có cao độ khác nhau. Đặc điểm của ka jơl là âm thanh chỉ được phát ra khi hít hơi vào. Ka jơl là một loại nhạc khí mang tính chất truyền tin. Khi săn được thú rừng, người Triêng vừa thổi ka jơl vừa chạy từ rừng về làng báo tin. Tiếng ka jơl vang vọng gọi cả làng đi đón thú rừng.

Dàn chiênggồm có 3 chiếc chiêng bằng (không núm), làm bằng đồng. Pặp (chiêng bố) là chiếc chiêng to nhất có đường kính 49cm, thành cao 8,5cm; (chiêng mẹ) có đường kính 35cm, thành cao 5,5cm; Kon (chiêng con) là chiếc chiêng nhỏ nhất có đường kính 28,5cm, thành cao 4cm. Thang âm của dàn chiêng: C (non) - H - ges1 (non). Trong lễ hội, dàn chiêng thường đi trước đội soang (múa), khi đi vòng quanh cây nêu.

Rinh là nhạc cụ gõ bằng nứa. Rinh được chế tác từ một ống nứa, một đầu có mấu kín, một đầu hở, có chiều dài khoảng 65cm. Sau đó người ta gọt vát từ khoảng giữa của ống về phía đầu hở để điều chỉnh âm thanh, sao cho cao độ của thành ống bằng cao độ của phần ống hơi còn lại để tạo cho âm thanh vang xa. Khi hòa tấu cùng với dàn chiêng trên, cao độ của rinh là nốt e1. 

Ong eng là nhạc cụ dây, chi cung kéo. Về hình thức ong eng cấu tạo tương tự như đàn nhị của người Kinh nhưng chỉ có một dây bằng sắt. Cần đàn là một đoạn tre nhỏ có đường kính khoảng 2,5cm, dài 97cm. Hộp cộng hưởng được làm từ một ống tre dài 12cm, đường kính khoảng 8cm, mặt đàn bịt bằng da ếch. Cần kéo đơn giản là một thanh tre vót mỏng. Khi diễn tấu, người chơi ong eng ngồi bệt dưới đất, dùng ngón cái và ngón trỏ bàn chân phải kẹp vào phía sau của hộp cộng hưởng để giữ hộp đàn, tay phải kéo, tay trái vừa giữ đàn vừa vuốt vào dây đàn để điều chỉnh cao độ. Ong eng có thể được dùng để độc tấu, hòa tấu cùng với đàn m’bin puil hoặc đệm cho hát.

M’binlà nhạc cụ dây gẩy. Nhạc cụ này có hai dây sắt được lên dây cách nhau một quãng 5 (c1-g1). Hộp cộng hưởng của m’bin hình chữ nhật được khoét rỗng từ một khúc gỗ, chiều dài 28cm, rộng 16cm. Mặt đàn được ghép bởi một miếng gỗ mỏng khác, mặt sau hộp cộng hưởng có khoét lỗ để thoát âm. Cần đàn m’bin cũng làm bằng gỗ, dài 44cm. Đây là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng, dùng để hòa tấu với các nhạc cụ khác hoặc đệm cho hát, múa.

M’bin puil là nhạc cụ dây, chi gẩy. Nhạc cụ có hai dây bằng sắt, lên dây cách nhau một quãng 5 (e1 - h1). ở phía dưới của dây lên nốt h1 có gắn thêm 2 phím bấm để tạo thêm 2 cao độ là: d2 (già) và e2 (non). Thân đàn là một ống tre nhỏ dài 70cm. Hộp cộng hưởng được làm từ vỏ của một quả bầu khô (puil) cắt bỏ đi phần nậm, sau đó họ buộc phần đáy của quả bầu vào thân đàn. Khi diễn tấu, phần miệng quả bầu được úp vào bụng của người chơi và với động tác khép mở miệng quả bầu vào thành bụng để tạo ra những sắc thái khác nhau. Ngón trỏ tay phải dùng để gảy đàn, tay trái vừa giữ cần đàn vừa bấm phím. M’bin puil là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng, dùng để hòa tấu cùng các nhạc cụ khác hoặc đệm cho hát, múa.

Múa:

Điệu múa Chắp pla a chi la tun nằm trong lễ cất lúa vào kho - một nghi lễ quan trọng, đánh dấu sự hoàn tất một chu trình sản xuất nông nghiệp của người Triêng. Điệu múa mô phỏng các động tác tuốt lúa, chuyển lúa vào kho do các cô gái thanh tân trình diễn được thể hiện rất uyển chuyển, sinh động. Dàn nhạc đệm cho múa bao gồm: đàn m’bin, sáo ta lun, ống rinh và chùm nhạc.

Trong lễ đâm trâu, đội múa và dàn nhạc đệm đi vòng quanh cây nêu theo chiều ngược kim đồng hồ. Điệu múa này có cả nam và nữ. Các động tác của nam mạnh khỏe, nữ nhẹ nhàng, uyển chuyển. Các nhạc cụ kết hợp với múa bao gồm: dàn chiêng bằng, trống pa thân và ống rinh.

2. Dân tộc Brâu

Dân ca:

Trong cuộc sống, người Brâu thích dùng tiếng hát để biểu lộ cảm xúc. Các bài dân ca Brâu mang nhiều nội dung khác nhau thường gắn với các sinh hoạt cộng đồng như Ohđơm (lễ ăn cơm mới), Loong krạ (lễ ăn hỏi), Pri jông (lễ cưới), hoặc Mộ mư (hát kể chuyện) v.v…

Nhạc cụ:

Nhạc cụ của người Brâu có các nhóm nhạc cụ hơi (bhău, lôr, đinh buk), nhạc cụ tự thân vang (chiêng) và nhạc cụ dây (bôồng bôồng, đinh goong pe play, đinh goong sơng play).

Bhău là loại sáo thổi ngang, chi lỗ vòm. Sáo được chế tác từ một ống nứa dài 100cm, hai đầu rỗng và chỉ có một lỗ thổi nằm ở giữa thân sáo. Khi diễn tấu, người thổi điều khiển âm thanh ở một đầu ống bằng cách dùng lòng bàn tay phải bịt mở để tạo những cao độ khác nhau. Các chàng trai và cô gái Brâu thường thổi bhău để tỏ tình với nhau.

Lôr là loại sáo thổi dọc, có nguyên tắc kích âm khá giống với cái tiêu của người Kinh là không có lưỡi gà hoặc dăm. ở bộ phận thổi, người ta gắn một miếng nứa tạo thành khe hở để lùa hơi. Nhạc cụ này dành cho nam giới sử dụng, dùng hòa tấu cùng các nhạc cụ khác trong các dịp vui của người Brâu.

Đinh buk là nhạc cụ hơi lùa. Nó được chế tác từ 2 ống nứa dài thông suốt không có đầu mặt; một ống có chiều dài 101,7cm, đường kính lòng ống 3cm; ống kia có chiều dài 99cm, đường kính lòng ống là 3,3cm. Tuy hai ống đàn này có kích thước không khác nhau nhiều, nhưng nghệ nhân đã biết khai thác nguyên lý âm thanh bằng cách bịt mở một đầu của ống đàn để tạo ra 2 âm cách nhau một quãng 8:

-   E (hơi non): khi bịt tay vào một đầu của ống dài

-   e1 (hơi non): khi để ống dài thông suốt không bịt tay

-   e1 (hơi già): khi để ống ngắn thông suốt không bịt tay

Nếu hai ống đàn để thông suốt không bịt tay thì 2 ống này có cao độ cách nhau khoảng gần 1/4 cung.

Khi diễn tấu, một người đàn ông đứng ở giữa, kẹp 2 ống đàn vào 2 bên nách và hai tay giữ hai ống đàn bắt chéo nhau hình chữ thập. ở bốn đầu ống đàn, 4 cô gái - mỗi cô đứng trước một ống đàn dùng hai tay vỗ lùa hơi vào miệng ống, còn cô gái thứ tư đập bàn tay trực tiếp lên mặt ống đàn (tạo âm thanh thấp hơn một quãng 8). Người Brâu chơi đinh buk vào những lúc nhàn rỗi và thường chỉ chơi ở ngoài nương rẫy.

Chiêng Thalà nhạc cụ chỉ được mang ra trình tấu khi cộng đồng có việc quan trọng. Trước khi đánh chiêng bắt buộc phải làm lễ. Thầy cúng lấy máu gà bôi vào mặt trong của chiêng và đọc lời khấn thỉnh hồn chiêng về. Bộ chiêng Tha chỉ có hai chiếc chiêng bằng (không núm). Người Brâu gọi chiếc to là “mẹ” có đường kính 53cm, thành cao 6cm. Chiếc nhỏ hơn là “cha” có đường kính 47cm, thành cao 7cm. Người ta treo chiêng lên một giá gỗ. Hai người chơi chiêng ngồi quay mặt vào nhau: người ngồi đối diện với mặt ngoài của chiêng thì dùng dùi gõ bằng song mây, còn người kia ngồi đối diện với mặt trong của hai chiêng thì dùng hai chiếc dùi thẳng bằng cành tre nhỏ, dài khoảng 75cm, chọc liên tục vào khoảng giữa mặt trong của chiêng. Cả nam và nữ đều có thể đánh chiêng Tha nhưng phải là những người già.

Bôồng bôồng là nhạc cụ dây, chi gõ. Thân đàn là một ống lồ ô dài khoảng 80cm, được kính khoảng 10cm. Người ta tách ở trên mặt ống đàn một phần cật tre mỏng, nhỏ tạo thành dây đàn (đàn chỉ có một dây). Sau đó dùng một thanh tre chống vào khoảng giữa của dây đàn làm cho dây đàn căng lên đồng thời tạo ra 2 âm thanh ở hai bên que chống. Khi diễn tấu, nghệ nhân dùng 2 thanh tre nhỏ làm dùi gõ vào hai bên dây đàn. Nhạc cụ này dành cho nam giới sử dụng, dùng để độc tấu hoặc vừa gõ đàn, vừa hát trong sinh hoạt thường ngày của người Brâu.

Goong đinh pe play là nhạc cụ dây, chi gẩy. Thân đàn là một ống lồ ô dài khoảng 80cm, được kính khoảng 10cm. Người ta tách từ trên mặt ống đàn ba phần cật tre mỏng, nhỏ tạo thành 3 dây đàn. Hai đầu của mỗi dây đàn được kê bằng 2 miếng tre để điều chỉnh cao độ. Thang âm của goong đinh pe play: f1- d2-g2. Khi diễn tấu, người ta dùng đầu ngón tay cái và ngón trỏ gảy vào dây đàn. Nhạc cụ này dành cho nam giới sử dụng, dùng độc tấu hoặc hòa tấu cùng các nhạc cụ khác trong những dịp hội hè và sinh hoạt thường ngày của người Brâu.

Goong đinh sơng play là nhạc cụ dây, chi gẩy. Nhạc cụ này có cấu tạo, kỹ thuật diễn tấu, chức năng nghệ thuật và môi trường sử dụng cũng tương tự như goong đinh pe play nhưng có một điểm khác là nhạc cụ có 5 dây.

Múa:

Người Brâu chủ yếu là múa tập thể trong các dịp lễ hội của cộng đồng. Sau mùa gặt, người Brâu tổ chức uống rượu và múa, hát vui. Ngoài sân đội múa đi vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ quanh ghè rượu cần trong âm thanh rộn ràng của chiêng cồng.

3. Dân tộc Xơ đăng (nhóm M’Nâm)

Dân ca:

Người Xơ đăng yêu thích ca hát. Họ có lối Acheo h’nụ đ’bo để nam nữ hát đối đáp với nhau khi đi làm, khi vui chơi hội hè. Nội dung thường là những bài hát giao duyên để nam nữ thanh niên bày tỏ tình cảm với nhau.

Nhạc cụ:

Bo đôlà một loại trống có hai mặt bịt bằng da sơn dương. Tang trống được chế tác từ một khúc gỗ liền có chiều dài 50cm, đường kính khoảng 22cm. Dọc theo tang trống, người ta néo các sợi dây mây để giữ căng hai mặt da. Khi diễn tấu, nghệ nhân ôm hoặc đeo trống, hai bàn tay vỗ trên mặt trống. Bo đô là nhạc cụ dành cho nam giới, dùng để hòa tấu cùng các nhạc cụ khác trong những dịp hội hè và sinh hoạt thường ngày của người Xơ đăng.

Kvôhlà nhạc cụ hơi, chi lưỡi gà rung tự do. Sáo được làm từ một ống nứa rỗng hai đầu có chiều dài 15cm, đường kính 1,5cm. Trên thân ống có khoét một lỗ thổi hình chữ nhật để gắn lưỡi gà bằng cật tre. Khi diễn tấu, miệng ngậm kín vào lỗ thổi, hai tay úp mở vào hai đầu sáo để tạo ra những âm thanh khác nhau. Kvôh là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng, dùng để độc tấu hoặc hòa tấu cùng với các nhạc cụ khác trong những dịp hội hè và sinh hoạt thường ngày của người Xơ đăng. Trong lễ đâm trâu, chàng trai Xơ đăng thường vừa thổi kvôh vừa hát đối đáp giao duyên với cô gái.

Ka lieu là nhạc cụ hơi, chi lỗ vòm. Sáo được chế tác từ một ống nứa dài 45cm, đường kính 1,5cm, một đầu có mấu, một đầu rỗng. ở phía đầu có mấu, người ta khoét một lỗ nhỏ hình tròn và gắn lên đó một miếng nứa tạo thành khe hở để lùa hơi. Trên thân sáo có khoét 3 lỗ bấm tạo cao độ. Trong sinh hoạt thường ngày của người Xơ đăng trai gái đều có thể thổi ka lieu.

Chinh, Guông:người Xơ đăng gọi chiêng bằng là chinh, chiêng núm là guông. Chinh, guông là nhạc cụ tự thân vang, chi gõ, đấm. Dàn chinh gồm có 5 chiếc, đường kính chiếc to nhất là 42cm, thành cao 6cm và đường kính chiếc nhỏ nhất là 25cm, thành cao 4,5cm. Dàn guông gồm 4 chiếc, đường kính chiếc to nhất là 52cm, thành cao 8cm và đường kính chiếc nhỏ nhất là 23cm, thành cao 3cm. Khi trình diễn, mỗi người cầm một chiêng, tay trái xách, tay phải cầm dùi làm bằng cây sum lỗ (một loại cây thân gỗ) có chiều dài khoảng 12cm để gõ. Đánh guông thì gõ vào núm còn đánh chinh thì gõ vào mặt trong của chinh, riêng chiếc guông to nhất, nghệ nhân dùng nắm tay để đấm vào núm guông làm cho âm thanh hay hơn là dùng dùi gõ. Chinh, guông là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng và thường chỉ dùng trong những ngày lễ của cộng đồng.

Kô klẹhlà nhạc cụ tự thân vang, chi gõ. Để làm nhạc cụ này, nghệ nhân chọn những ống nứa già, thẳng, đẹp, một đầu để mấu kín, một đầu hở. Sau đó người ta gọt vát từ khoảng giữa của ống về phía đầu hở để điều chỉnh âm thanh. Kô klẹh là nhạc cụ gồm có 5 ống (mỗi ỗng cho một cao độ) chia làm 2 bộ, mỗi bộ do một người sử dụng. Để liên kết các ống đàn trong một bộ lại với nhau, người ta đặt các ống đàn song song với nhau rồi buộc một thanh tre nằm ngang vuông  góc với các ống đàn đó. Khi diễn tấu, tay trái cầm vào thanh tre, tay phải dùng dùi gõ. Cao độ và kích thước của các ống đàn như sau:

* Bộ 2 ống:

     - Nốt d1: dài 58cm, đường kính 4,5cm

     - Nốt g1: dài 53cm, đường kính 4,5cm

*Bộ 3 ống:

     - Nốt e1 (hơi già): dài 56cm, đường kính 4,5cm

     - Nốt a1 (hơi già): dài 49cm, đường kính 3,5cm

     - Nốt h1: dài 41cm, đường kính 3,3cm

Kô klẹh là nhạc cụ do nam giới sử dụng, thường dùng để hòa tấu cùng với các nhạc cụ khác trong những dịp hội hè và sinh hoạt thường ngày của người Xơ đăng.

Brânglà nhạc cụ dây, chi gẩy. Thân đàn là một ống nứa dài 90cm, bầu cộng hưởng làm bằng vỏ quả bầu khô, cao khoảng 25cm, đường kính 15cm. Đàn gồm có 10 dây bằng sắt, được mắc dọc xung quanh ống đàn. Mỗi dây cho một âm thanh. Khi diễn tấu, người ta dùng các đầu ngón tay gẩy vào dây đàn. Nhạc cụ này dành cho nam giới sử dụng, thường dùng để độc tấu hoặc đệm cho hát trong sinh hoạt thường ngày của người Xơ đăng.

Múa:

Trong các lễ ăn lúa mới, mừng nhà mới, ăn trâu, người Xơ đăng thường có múa kết hợp với hòa tấu chinh, guông và các nhạc cụ.

 Thực trạng và đề xuất

 Nhìn chung, âm nhạc dân gian của cả ba dân tộc đã được khảo sát không còn được sử dụng nhiều trong đời sống thường ngày, nhiều nhạc cụ không còn được chế tác và sử dụng. Ví dụ: Dân tộc Brâu có 9 loại nhạc cụ nhưng khi đến khảo sát chúng tôi chỉ thấy có sẵn 1 loại nhạc cụ là chiêng Tha. Chúng tôi đã phải lập kế hoạch để phục hồi lại các nhạc cụ: ăm pục (ống thổi), bờ hau (sáo 1 lỗ), bôồng bôồng (đàn 1 dây), goong đing (loại 3 dây, loại 5 dây), đing puk (ống vỗ), lôr (sáo). Các nhạc cụ khác như đàn môi, sáo lưỡi gà bằng đồng thì ở cả hai dân tộc Triêng và Brâu, chưa tìm được người chế tác. Đây cũng là tình trạng chung đang xảy ra ở nhiều dân tộc thiểu số khác. Vì vậy, công tác sưu tầm, lưu giữ, bảo tồn, phục hồi những giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống là hết sức cấp thiết.

 

 

 

Thêm một trao đổi