03-09-2014, 12:09

ĐIỀN DÃ, KHẢO SÁT, SƯU TẦM ÂM NHẠC VÀ MÚA DÂN GIAN
DÂN TỘC HMÔNG, GIÁY, DAO Ở HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG

(Thuộc chương trình “Hỗ Trợ Văna Việt Nam Vì Sự Phát Triển
Bề
n Vững 2005-2009” do quỹ SIDA - Thụy Điển tài trợ)

 

                                             NGUYN THY TIÊN – H TH HNG DUNG

 

Những người thực hiện:

Chỉ đạo thực hiện:

      TS. Lê Văn Toàn - Viện trưởng Viện Âm nhạc

Chủ nhiệm dự án:

      ThS. Nguyễn Thủy Tiên

Nhóm nghiên cứu:

      ThS. Nguyễn Thủy Tiên

      ThS. Hồ Thị Hồng Dung

Nhóm thu thanh, ghi hình:

      Thu thanh: Nguyễn Anh Dũng

      Đạo diễn: NSƯT Nguyễn Kha

      Quay phim: Phạm Minh Tuấn, Nguyễn Quang Bách

      Chụp ảnh: Nguyễn Ngọc Long

Nhóm kỹ thuật:

      Nguyễn Trần Khánh, Nguyễn Trọng Hào, Đinh Việt Thắng

 Dân tộc và địa điểm khảo sát:

-    Dân tộc Hmông (nhánh Hmông trắng) ở thôn Hợp Tiến,
xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang

-    Dân tộc Giáy ở thôn Sang Phàng, xã Đông Hà,
huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang

-    Dân tộc Dao ở thôn Nậm Đăm, xã Quản Bạ,
huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang

 Thời gian tiến hành:

           Tháng 5 năm 2009

Hà Giang là tỉnh miền núi cực Bắc Việt Nam, phía Bắc và phía Tây giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái.

Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.884,37km2, chỗ rộng nhất từ Tây sang Đông dài 115km và từ Bắc xuống Nam dài 137km (tính theo đường chim bay). Về cơ bản, địa hình Hà Giang được phân thành ba vùng: vùng cao phía Bắc còn gọi là cao nguyên Đồng Văn, gồm các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, núi đá vôi chiếm 90% diện tích. ở đây có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu, hẹp, nhiều vách núi dựng đứng. Vùng cao phía Tây gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần là một phần của cao nguyên Bắc Hà. Vùng địa lý này về mùa hè khí hậu nóng hơn cao nguyên Đồng Văn. Vùng núi thấp bao gồm địa bàn các huyện, thị còn lại, kéo dài từ Bắc Mê, thị xã Hà Giang, qua Vị Xuyên tới Bắc Quang.

 Qua những di tích thời đại đá cũ Đồi Thông (thị xã Hà Giang), Bó Khiếu (Bắc Mê); di tích sơ kỳ thời đại đá mới Đán Cúm, Nà Chảo (Bắc Mê); di tích hậu kỳ đá mới - sơ kỳ đồng thau Nà Bếp (Bắc Mê), Lò Gạch (thị xã Hà Giang) với những bộ sưu tập công cụ lao động, vũ khí bằng đồng, khoảng hơn 40 chiếc trống đồng… đã khẳng định Hà Giang là một vùng đất cổ, từ lâu đã có người sinh sống, có lịch sử văn hóa lâu đời, có sự phát triển liên tục từ thời đại đá cũ cách đây hàng vạn năm cho đến nay.

Các dân tộc Hmông, Dao, Pả Thẻn (thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông-Dao);  Tày, Nùng, Giáy, Bố Y (thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái); La Chí, Cờ Lao, Pu Péo (thuộc nhóm ngôn ngữ Ka-Đai); Lô Lô, Phù Lá (thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến); Hoa (thuộc nhóm ngôn ngữ Hán); Việt (thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường),  là các dân tộc đã sinh sống ở tỉnh Hà Giang từ lâu đời, đặc biệt, một số dân tộc như La Chí, Pu Péo, Cờ Lao được coi là chỉ có duy nhất ở Hà Giang[1].

Mỗi dân tộc đều có một di sản văn hóa riêng làm nên nét đặc sắc cho mảnh đất Hà Giang. Các lễ hội mang tính cộng đồng tiêu biểu của Hà Giang phải kể tới như chợ tình Khau Vai, lễ hội Lồng Tồng của đồng bào Tày, lễ Cấp sắc của người Dao… Bên cạnh đó còn phải kể tới di sản đồ sộ về văn hóa dân gian từ văn học như thơ ca, truyện cổ, thành ngữ, tục ngữ tới các hình thức dân ca, dân vũ phong phú của các dân tộc như múa Lô Lô, múa khèn của người Hmông, múa trong lễ Cấp sắc của người Dao, dân ca Hmông, Dao, Giáy, Tày, Nùng, Bố Y, Pu Péo…

I. DÂN TC HMÔNG (nhánh HMÔNG TRNG)
THÔN HP TIN, XÃ LÙNG TÁM,
HUY
N QUN B, TNH HÀ GIANG

1. Đời sống và văn hóa         

Trên bản đồ phân bố các dân tộc tỉnh Hà Giang, người Hmông có dân số đông nhất (với hơn 190.000 người), sống tập trung chủ yếu ở các huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ và hai huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì.

Xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ có 7 thôn: Hợp Tiến, Lùng Hóa, Lùng Tám thấp, Lùng Tám cao, Mỏ Nhà thấp, Mỏ Nhà cao và Tùng Nùn. Xã có 628 hộ và 3246 nhân khẩu, trong đó người Hmông chiếm 85%, người Dao chiếm 7%, người Nùng là 5%, người Giáy là 3%. Người Hmông ở xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ thuộc nhánh Hmông trắng, có các dòng họ như họ Sùng, họ Vàng, họ Lù, họ Giàng, họ Lò, họ Vù, họ Tráng, họ Mua, họ Hạng. Trong đó, họ Sùng là đông nhất. Đời sống văn hóa và sinh hoạt âm nhạc của người Hmông trắng ở đây có những nét riêng trong sự tương đồng văn hóa với các nhánh Hmông khác trong tỉnh.

Người Hmông Hà Giang có ba nhánh: Hmông hoa, Hmông đen và Hmông trắng. Người Hmông hoa sống chủ yếu ở các huyện Hoàng Su Phì, Đồng Văn, Quản Bạ. Người Hmông trắng sống ở huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ. Người Hmông đen sống tập trung ở hai huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần. Các nhánh Hmông phân biệt chủ yếu ở ăn mặc và phong tục tập quán. Váy của phụ nữ Hmông trắng làm bằng vải lanh trắng, còn phụ nữ Hmông hoa và Hmông đen váy nhuộm chàm có thêu hoặc in hoa văn ở gấu. áo của phụ nữ Hmông trắng xẻ ngực, có thêu hoa văn ở cánh tay và yếm sau lưng. áo của phụ nữ Hmông hoa lại xẻ nách, trên vai và ngực có nẹp thêm các đường vải màu, chỉ màu. áo phụ nữ Hmông đen mở ngực và thêu hoa. Nhìn chung, phụ nữ Hmông đều để tóc dài và đội khăn trên đầu. Phụ nữ Hmông hoa khi đi lấy chồng quấn tóc lên đỉnh đầu và độn thêm tóc giả. Ngược lại với y phục của nữ giới, y phục nam giới Hmông khá thống nhất giữa các nhánh. Đa phần họ đều mặc quần, áo ngắn, thắt lưng và khăn đội đầu. Quần của nam giới may kiểu quần chân què, cạp rộng lá tọa, đũng quần rất thấp, khi mặc cạp được dắt sang một bên rồi dùng thắt lưng thắt lại cho chặt.

Người Hmông sống  trên vùng núi cao, khí hậu lạnh nên ởnhà đất trình tường, mái lợp ngói hoặc tranh. Nhà hình chữ nhật có 3 gian, 2 chái. Ba gian nhà chính được sắp xếp như sau: gian bên trái dùng để đặt bếp lò nấu nướng và buồng ngủ của vợ chồng gia chủ. Gian bên phải dùng để đặt bếp sưởi và giường khách. Gian giữa thường rộng hơn, đây là gian để bàn thờ tổ tiên và cũng là nơi tiếp khách, ăn uống của gia đình. Bàn thờ tổ tiên không cầu kỳ như các dân tộc khác mà chỉ đơn giản là một mảnh ván hoặc nếu không có ván thì chỉ là 3 ống cắm hương làm bằng tre treo lên vách hoặc tường nhà.

Người Hmông theo chế độ phụ quyền, người đàn ông, con trai được quý trọng. Để trở thành người đàn ông thực sự, người con trai Hmông phải lấy vợ, sinh con đầu lòng và được làm lễ đặt tên đệm mới được coi là người trưởng thành. Người phụ nữ Hmông chịu rất nhiều thiệt thòi trong gia đình, làm lụng vất vả, nếu chồng chết thì phải lấy em chồng, muốn lấy người ngoài thì phải để lại của cải, con cháu cho nhà chồng.

Đám cưới của người Hmông gồm ba giai đoạn: lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi, lễ cưới. Đám cưới thường được tổ chức vào mùa xuân vì đồng bào kiêng sấm chớp. Theo phong tục, nhà gái không được đưa dâu về nhà trai. Một nét riêng trong hôn nhân của người Hmông là tục kéo vợ. Tục này diễn ra bởi nhiều lý do: đôi trai gái yêu nhau nhưng cha mẹ đôi bên không đồng ý, nhà trai cậy quyền thế cướp con gái về làm vợ… Tục lệ này khiến người con gái dù không đồng ý nhưng nếu đã bị kéo về nhà người ta 2, 3 ngày thì buộc phải lấy người đó.

Tang ma của người Hmông có hai loại: đám ma tươi (khi trong nhà có người vừa qua đời) và đám ma khô (thường là sau khi chôn 13 ngày hoặc sau vài năm - tùy vào hoàn cảnh của từng gia đình). Khi có người qua đời, gia đình báo cho cả làng biết bằng 3 phát súng chỉ thiên. Ông thầy cúng được mời để đọc bài cúng Au tơ kế (Chỉ đường), nói lên nguồn gốc của người Hmông, vừa là lễ thức quan trọng chỉ đường cho người chết về được với tổ tiên. Đặc biệt, trong đám ma tươi, người chết được đặt trên tấm ván, treo ở gian giữa. Theo quan niệm của người Hmông, tấm ván được ví như lưng ngựa để đưa người chết về thế giới tổ tiên. Khèn, kèn và trống là những nhạc cụ tham dự trong đám ma của người Hmông. Đám ma khô thường diễn ra trong một ngày, một đêm. Người Hmông quan niệm nếu không làm đám ma khô thì người mất chưa được rửa sạch tội lỗi, hóa kiếp, sẽ không hòa nhập với tổ tiên. Người ta ra mộ lấy một nắm đất và mời người chết về nhà dự lễ. Đến cổng, người ta đặt nắm đất vào cái nia và mang vào đặt dưới bàn thờ để tiến hành các nghi lễ do thầy cúng, thầy trống, thầy kềnh, thầy kèn thực hiện. Người Hmông không lập bàn thờ riêng và giỗ người chết, sau đám ma tươi chỉ làm đám ma khô là chấm dứt.

2. Âm nhạc dân gian

2.1. Nhạc hát

Người Hmông rất yêu ca hát. Ca hát là một phần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa của họ. Tiếng hát của người mẹ đưa em bé vào giấc ngủ say, tiếng hát đối đáp để quên đi nỗi mệt nhọc trong lao động, tiếng hát của ông mối trong đám cưới, của nam thanh nữ tú trong những cuộc vui, tiếng hát của người già kể cho con cháu nghe những câu chuyện thần thoại, và cả tiếng hát buồn để tiễn biệt người mất trong đám ma.

Hát kể chuyện thần thoại: Người Hmông sở hữu một kho tàng những câu chuyện thần thoại phong phú có thể kể tới như Chùa no tró ua dong nành (Mồ côi chịu khó về sau nên người), Tùa sau kẻ hủ tro cát ua chua no (Kẻ độc ác về sau cực khổ), Chỏ thiết nù thăng (Người con gái và anh chàng rồng), Phá sí sở tro trò thánh (Nước đổi đời người) Người ta có thể hát kể chuyện thần thoại bên bếp lửa, theo tay đưa thoi nhịp nhàng của người phụ nữ trong mùa làm lanh (tháng 6, tháng 7) hoặc trong những lúc rảnh rỗi.

Câu chuyện thần thoại Phá sí sở tro trò thánh (Nước đổi đời người) được ông Sùng Mí Quả (1956) kể như sau: Thuở xưa, cả thế gian là nước, nước ngập lên tận trời. Mọi người chết hết chỉ còn hai anh em nằm trong quả trống thì sống sót. Quả trống chạm lên tận trời. Ông tiên lấy làm ngạc nhiên tại sao trời cao thế mà ai dám gõ. Ông tiên ra cửa xem thì thấy nước đã ngập lên tận trời. Ông tiên dùng mũi sào chọc xuống làm cho nước cạn dần. Quả trống mắc trên một quả núi. Có con chuột còn sống sót, không có gì ăn ra gặm mặt trống, nhờ đó hai anh em mới chui ra được.

- Người anh bàn với cô em gái: “Thế gian chẳng còn ai nên ta lấy nhau làm vợ chồng thôi”.

- Cô em gái nói: “Thế thì không được, anh phải đi khắp thế gian xem có còn ai nữa không”.

Người anh đi một thời gian, quay về nói: “Trên thế gian không còn ai chỉ còn hai anh em và chuột thôi”.

- Đứa em gái lại nói: “Em mang cối xay lên núi kia, anh mang cối xay này lên núi nọ. Ta lăn xuống, nếu cối xay úp vào nhau thì mới chịu làm vợ cho anh”.

Hai anh em làm như vậy, quả nhiên cối xay đè lên nhau. Đứa em gái khóc mãi, sau cùng mới chịu lấy người anh làm chồng. Hai vợ chồng sinh ra đứa con không tay không chân, tròn như một bọc thịt. Vợ chồng bàn nhau chọc đứa con ném đi, vướng đến đâu thì sau này sẽ thành một dòng họ. Ném từ nhà ra đi, mắc vào vườn thì thành họ Vàng, mắc vào cây đào thành họ Thào, mắc vào cây tre thành họ Sùng, vào cây mận thành họ Lù… Bởi vậy, đã tạo nên những dòng họ của người Hmông như ngày nay.

Cũng như nhiều dân tộc khác ở Việt Nam, người Hmông giải thích về nguồn gốc loài người theo mô hình: lũ lụt - nam+nữ - tộc người. Các tác giả dân gian đã sử dụng trí tưởng tượng phong phú kết hợp với các yếu tố thần kỳ để giải thích về nguồn gốc vũ trụ, các hiện tượng tự nhiên. Để hát kể trọn vẹn một câu chuyện thần thoại như thế thường phải mất nửa giờ đồng hồ.

Hát trong đám cưới: Như đã nói ở trên, để xin được cô con dâu, người Hmông phải trải qua ba giai đoạn: lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi và lễ cưới. Trong lễ ăn hỏi, người con trai được bố mẹ cho cái ô, cái địu, trong địu có 2 chai rượu. Cái ô có ý nghĩa quan trọng trong đám cưới của người Hmông, bởi cô dâu là người mới của nhà trai, nếu đưa ra khỏi nhà mà không có ô che thì dù đón người về nhưng ma đã bắt mất hồn đi. Cùng đi với chú rể tới nhà gái có ông mối chính (thường là bác cả trong nhà), ông mối phụ (người khác họ) và phù rể. Ông mối là người không thể thiếu trong đám cưới của người Hmông. Người này vừa phải thông thạo các phép tắc xã giao, vừa thuộc các bài hát nghi lễ cưới xin. Thông thường, các bài hát do ông mối chính đảm nhiệm. Nhà gái không có ông mối.

Theo tục lệ người Hmông, từ nhà trai đi, ông mối sẽ hát bài Cú nẻ cú chí lỗ câu mù trò kê (Xin ô của bố mẹ cầm đi). Đi tới nhà gái, ông mối hát bài Khênh khó trù (Mở cửa) để xin bố mẹ nhà gái mở cửa. Nhà gái nghe hát bài này xong sẽ mở cửa. Vào tới nhà, ông mối hát bài Lô chả thài lù (Xin chỗ ngồi và đặt ô dưới bàn thờ). Hai ông mối mang điếu thuốc mời bố mẹ nhà gái. Ông mối nói: “Đứa con trai nhà này sang muốn lấy con gái nhà chủ, nếu nhà chủ đồng ý xin đi gọi chú, bác, cậu để nói chuyện”. Nhà gái cho người đi mời về và hai bên bàn bạc: ông chú nói về cái ăn, ông cậu nói về cái mặc. Nhà gái thách sính lễ gồm rượu, thịt, áo, váy, xà cạp v.v… rồi hẹn ngày để nhà trai tới đón con dâu.

Ngày cưới, đoàn đón dâu của nhà trai có từ 7, 9 hoặc 11 người, để khi về có thêm cô dâu sẽ thành số chẵn (8, 10 hoặc 12). Trong đoàn đi đón dâu của nhà trai không có bố mẹ chú rể, nhưng phải có một người phụ nữ để che ô cho cô dâu khi ra khỏi nhà. Trên đường đi, đoàn đón dâu có dừng lại cúng thần thổ địa, ăn bữa cơm trưa rồi mới được phép vào nhà gái.

Đến nhà cô dâu nếu bố mẹ nhà gái đã đồng ý thì sẽ không cần hát bài Khênh khó trù (Mở cửa), còn nếu họ chưa thuận thì ông mối vẫn phải hát. Vào tới nhà, xin bàn ghế ngồi rồi sau đó ông mối hát bài Chót ta (Trao sính lễ cho nhà gái). Chàng rể quỳ khi bên nhà gái cúng thờ tổ tiên. Chuẩn bị ra về, ông mối hát bài Thó cầu cu nẻ chu chi tò no chót kha (Xin nhà gái cái ô).Khi nhà gái chuẩn bị dẫn cô dâu ra thì chú rể quỳ lạy bố mẹ cô dâu.

Đến giờ lên đường, cô dâu được anh trai và anh họ dắt từ trong nhà ra ngoài cửa để trao cho bên nhà trai. Chú rể phải lạy hai người thì họ mới thả tay để đưa cô dâu về. Nhà gái không đưa cô dâu về nhà trai.

Khi về tới nhà trai, ông mối lấy tiết gà để đánh hồn đi theo. Ông mối hát bài Tho chồng tà lò chấy tày lúc cầu (Xin phép được vào nhà đón lấy cái ô). Nghỉ ngơi cơm nước xong nếu nhà nào có điều kiện sẽ tổ chức hát đối đáp để chúc mừng hạnh phúc cho đôi vợ chồng. Bài Mua ua nha (Đi làm dâu) là một trong những bài hát tiêu biểu của người Hmông, nói lên số phận đi làm dâu của người phụ nữ, được hát trong đám cưới hoặc hát khi người phụ nữ có nỗi lòng tâm sự:

Cú nị cú chi du chi chủ chai cợ manh cũng chí chai sù chào tài. Cú nị cú chi du chi chủa puất cợ manh cũng chí chai su chao muất.

Ca tù lúc tù tao pủ cê tá nhó lúc chai sac sia sế. Tá kì cho pủ kế tề mê khó tác tá lúc chai sơ sia lác.

Mí muộn cà Hmông muất pùa sài no chi tao cho đía lenh mi mù lúc muốt chia gà cho tỉ tía. Muất pùa sài no chi tao caho lenh mế nù lúc muất chia gà cho tỉ tao.

Lời dịch:

Bố mẹ sinh em ra không đúng thời. Đã đến lúc gặp mối của nhà trai mang ô đến đòi. Bố mẹ sinh em ra không đúng lúc. Nhà trai đã mang ô đến em phải bỏ bố mẹ để đi lấy chồng.

Ngày mai lúc trời sáng là đến giờ em phải lên đường. Em chuẩn bị quần áo để đi làm dâu.

Sáng con gái ăn cơm chưa no. Anh em chia tài sản để đem đi làm kỷ  niệm. Cơm ăn đã no rồi. Anh chị em chia quần áo, váy để người con gái mang đi.

2.2. Nhạc cụ

Không chỉ nhạc hát phát triển, người Hmông ở thôn Hợp Tiến, xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ còn sở hữu số lượng nhạc cụ khá phong phú. Nhạc cụ hơi như kềnh (khèn), su (kèn), chang tà (sáo ngang), tà trua (sáo gió), nhạc cụ dây kéo như lự phư (đàn nhị), nhạc cụ họ màng rung như trùa ta (trống ma) v.v…

Kềnh (khèn)là nhạc cụ tiêu biểu, do nam giới sử dụng. Kềnh gồm 6 ống tre được xếp thành 2 hàng. Trong mỗi ống có gắn lưỡi gà bằng đồng hoặc bằng bạc dát mỏng. Riêng ống có đường kính to nhất gắn hai lưỡi gà. Vì vậy, hàng âm của khèn lên tới 7 âm: d1-e1-g1-a1-h1-d2-e2. Phần ống có gắn lưỡi gà được đặt trong bàu kín làm bằng gỗ. Trên mỗi ống, lỗ bấm ở gần nơi đặt lưỡi gà, bên ngoài bàu kín. Muốn có âm thanh, người ta lấy tay bịt lỗ bấm, tạo áp lực do thở ra hay hít vào, làm rung lưỡi gà.

Nghệ nhân Mua Giống Phủ (1956) kể lại câu chuyện về cây kềnh: “Trước đây, trên trời có 6 anh em, mỗi người thổi một ống. Trên trời thả 6 anh em xuống mặt đất để làm ăn. Không may người anh cả mất nên không có người thổi. Mấy anh em bàn nhau vào rừng lấy gỗ chặt đôi, khoét lỗ cắm 6 ống vào rồi lấy vỏ cây rừng buộc chặt. Từ đấy 6 ống chỉ cần giao cho một người thổi, chính là cây kềnh ngày nay.”

 

Kềnh của người Hmông là nhạc cụ chuyên dùng trong đám ma, nhưng không vì thế mà nó trở thành nhạc cụ kiêng kị. Cây kềnh có thể là người bạn tâm giao của người đàn ông mỗi khi buồn, có thể theo chàng trai đi ra chợ trong các đám hội hè. Trong chợ người ta có thể thổi để mời bạn vào chợ chơi (1 người thổi), thổi mời bạn uống rượu (5 hoặc 6 người vừa thổi, vừa múa, vừa uống rượu), thổi để rủ bạn về nhà chơi (1 người thổi). Đặc biệt, người Hmông thổi kềnh thường kết hợp với múa. Múa kềnh là kết hợp giữa múa thường (múa điệu bộ) và múa võ (các động tác võ).

Trong đám ma, kềnh là nhạc cụ quan trọng không thể thiếu trong việc đưa đường, chỉ lối tiễn người chết về thế giới bên kia. Người thổi kềnh trong đám ma gọi là chua kềnh tằng tùa. Người thổi kềnh phải học, thường có truyền thống gia đình, truyền từ đời này sang đời khác. Sau khi thầy cúng đọc xong bài Au tơ kế (Chỉ đường),ông thầy kềnh sẽ thổi bài Kềnh tu sía (Khèn tắt thở)đểbáo cho những người xung quanh biết người chết sẽ không bao giờ quay lại thế giới trần gian. Sau đó, thổi tiếp đến bài Kềnh chê nềnh (Khèn lên ngựa). Theo người Hmông, người chết phải đi bằng ngựa mới về tới thế giới của tổ tiên ông cha ở trên chín tầng mây. Trong ngày, cứ mỗi bữa ăn, kềnh có bài thổi dành riêng cho người chết như bài Kềnh sài (Khèn cơm sáng), Kềnh su (Khèn cơm trưa), Kềnh mo (Khèn cơm tối). Những bài vừa kể trên đều được diễn tấu bởi 2 kềnh, 1 su và 1 trùa ta. Ông thầy kềnh vừa thổi kềnh vừa múa. Nghệ nhân Mua Giống Phủ giải thích: “Múa kềnh như đàn ngựa chạy để người chết đi nhanh hơn. Múa như vậy kẻ ma cũng thích, người trần cũng thích. Vào buổi tối, người ta còn múa kềnh vui gồm ba bài: Hậu pồng tí (Sự tích cây khèn), Đầu tau (Đập chân), Ti túa (Tiếng khèn gọi bạn chơi). Hậu pồng tí do 1 hoặc 2 người thổi, bài Đầu tauTi túa có thể do từ 2 đến 8 hoặc 10 người thổi nhưng phải đảm bảo số chẵn.

Su (kèn loa) là nhạc cụ hơi, chi dăm kép. Su do nam giới thổi, chỉ sử dụng trong đám ma. Thân kèn làm bằng gỗ cây trạo. Trên đó người ta khoét 7 lỗ bấm trước và 1 lỗ bấm sau. Loa kèn làm bằng gỗ cây thông hoặc miếng đồng cuốn, có thể tháo ra. Dăm kèn làm bằng rơm. Kèn dài khoảng 50cm, trong đó phần thổi (có dăm) dài chừng 7cm, thân kèn dài 28cm, loa dài 15cm, rộng 12cm. Mỗi lỗ bấm có khoảng cách tương đối bằng nhau khoảng 2,5 tới 3cm. Tùy theo tay thuận của người thổi kèn, nhưng thông thường, tay trái sử dụng toàn bộ 5 ngón tay để bịt hoặc mở 1 lỗ bấm sau và 4 lỗ bấm trước (gần miệng thổi), tay phải sử dụng ba ngón giữa để mở hoặc bịt 3 lỗ bấm trước (gần loa kèn). Âm thanh của kèn vang xa, chói, nhưng hơi ngàn ngạt. Hàng âm của kèn gồm: c1 (đúng) - d1 (non) - e1 (non) - f1 (già) - g1 (đúng) - a1 (non) - h1 (non) - c2 (đúng).

Chang tà (sáo ngang) là nhạc cụ hơi, chi lưỡi gà rung tự do. Chang tà được làm từ cây trúc non tầm 1 năm tuổi bởi nếu chọn cây già sẽ dễ vỡ. Sáo dài chừng 45cm, đường kính ống 1,8cm, một đầu kín (gần miệng thổi) và một đầu hở. Phía đầu kín người ta khoét lỗ thổi và đặt lam bằng đồng. Sáo có 7 lỗ trước và 1 lỗ sau. Khoảng cách từ lỗ sau tới lỗ trước thứ nhất là 1cm. Khoảng cách giữa 6 lỗ trước (gần miệng thổi) từ 1,5cm tới 2,5cm. Riêng từ lỗ thứ sáu tới lỗ thứ bảy là 5,2cm. Lỗ thứ bảy này không được bấm, bởi vậy hàng âm của chang tà gồm 6 âm là: c1 - es1 - f1 - g1 - b1 - c2. Chang tà do nam giới sử dụng, thường được thổi trên nương rẫy, trong nhà lúc rảnh rỗi, lúc đi chơi gái, hoặc thổi vào buổi sáng để gọi chị em dạy đi gánh nước.

Trà chua (sáo gió) là nhạc cụ hơi, thổi dọc, do nam giới sử dụng. Tại miệng thổi, người ta cắt một miếng tre dài chừng 4 cm, trên miếng tre khoét hình tam giác và buộc ra ngoài sáo. Sáo dài khoảng 32 cm. Trên ống sáo có 6 lỗ bấm với khoảng cách khá bằng nhau chừng 1,6cm tới 2cm. Khi thổi người ta sử dụng ba ngón giữa của tay trái bấm vào 3 lỗ gần miệng thổi và dùng ba ngón giữa của tay phải vào 03 lỗ bấm tiếp theo. Hàng âm của trà chua là: f1-g1-b1-c2-es2-f2. Trà chua là người bạn tri kỷ của chàng trai Hmông mỗi khi buồn, khi gọi bạn gái đi chơi vào những đêm trăng sáng.    

  

Lự phư (đàn nhị) là nhạc cụ dây, chi cung kéo. Lự phư do nam giới sử dụng khi đi chơi gái hoặc đệm cho con gái hát trong những cuộc vui. Giai điệu của lự phư thường phỏng theo giai điệu của các bài dân ca Hmông. Đàn gồm 2 dây, lên cách nhau quãng 4 hoặc quãng 5. Mặt đàn được căng bằng da cóc, đường kính khoảng 11cm. Cần đàn làm từ ống tre dài khoảng 66cm. Cung kéo được làm từ đuôi con ngựa dài khoảng 32cm. Ngày nay, người dân mua đàn nhị của người Kinh về dùng và cũng được gọi là lự phư.

Trùa ta (trống ma)là nhạc cụ họ màng rung, gắn với nghi lễ đám ma của người Hmông. Đây là loại nhạc cụ kiêng kị, không được đánh vào ngày thường, trong nhà cũng được thờ cúng cẩn thận, chỉ được dùng khi trong bản có người qua đời.

Nghệ nhân Mua Giống Phủ là một trong những người mà dòng họ có nuôi trống ma. Ông kể lại rằng: “Bố tôi trước đây bị ốm. Đi bói, người ta bảo phải nuôi trống ma ở trong nhà mới khỏi bệnh. Vậy là bố đi đặt người ta làm cho một cái trống ma. Mặt trống (hán mùa) làm bằng da bò, có đường kính khoảng 42cm. Tang trống (táy mù) làm bằng gỗ cây cảo khẩu vàng (giống gỗ pơmu), cao khoảng 58cm. Nêm (chìa sung) để căng mặt trống làm từ cây tre. Dùi trống (lung trùa) bằng gỗ đẽo tròn một đầu. Trống ma đã có mặt trong nhà tôi khoảng 31 năm. Bố tôi nuôi được 4 năm thì ông qua đời. Chiếc trống ma được chuyển về nhà cậu em út của tôi. Cũng như chúng ta đã biết trong câu chuyện liên quan tới cây kềnh khi 6 anh em từ trên trời xuống dưới mặt đất thì người anh cả bị mất nên mặc dù trong nhà tôi là anh cả nhưng phải nhường quyền nuôi trống cho người em út. Trong trường hợp người em út không nuôi được nữa sẽ phải mang trống ra treo ngoài hang đá, không được treo trong nhà.

Tại nhà, trống ma được đặt cạnh cửa chính, đối diện với bàn thờ. Dưới trống người ta mắc một ống tre để thắp hương, treo ở tường; một chiếc ghế (trùng nho) để thần trống ngự uống nước, hút thuốc. Chiếc ghế này là vật bất di bất dịch, không được di chuyển hay người nhà ngồi vào. Sáng 30 Tết, có tục lệ lấy nước về rửa sạch trống, người chủ nhà làm mâm cỗ để trên ghế mời thần trống ăn, cho lông gà và dán giấy lên tang trống. Khi nào trong bản có người chết tới mượn trống, chủ nhà sẽ thắp hương xin phép, lấy một chén rượu đổ từ trên xuống để thần trống uống và đánh ba tiếng trống rồi hạ trống xuống địu đi. Trên đường đi từ nhà người nuôi trống tới đám ma, người mang trống không được nghỉ hoặc hạ trống xuống mặt đất.”

Trùa ta cùng hòa tấu các bài bản với kềnh và su trong đám ma. Một nhạc cụ về hình thức cũng giống bao chiếc trống khác, nhưng lại mang đầy ý nghĩa tâm linh, được người Hmông tôn thờ một cách kính cẩn. Vào thời điểm hiện nay, tại thôn Hợp Tiến, xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ chỉ có hai dòng họ nuôi trống đó là họ Sùng và họ Mua (dòng họ của nghệ nhân Mua Giống Phủ).

 

II. DÂN TC GIÁY THÔN SANG PHÀNG,
X
à ĐÔNG HÀ, HUYN QUN B, TNH HÀ GIANG

1. Đời sống và văn hóa

Dân tộc Giáy ở Hà Giang có khoảng 11.000 nhân khẩu, chiếm khoảng 2.2% dân số chung của tỉnh, sinh sống tại các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh, nhưng tập trung nhiều nhất ở huyện Đồng Văn và Yên Minh. Dân tộc Giáy có nguồn gốc từ tỉnh Tứ Xuyên, Quý Châu, Quảng Tây, và Vân Nam của Trung Quốc. Cho đến ngày nay, các ông thầy cúng vẫn còn giữ những quyển sách bằng chữ Hán ghi lại nguồn gốc của dân tộc. Người Giáy thuộc cộng đồng ngôn ngữ Tày-Thái.

Thôn Sang Phàng, xã Đông Hà, huyện Quản Bạ có các dân tộc Giáy, Hmông, Nùng, Tày, Hoa, Kinh cùng chung sống. Trong đó, dân tộc Giáy có 176 hộ chiếm khoảng 60%, dân tộc Hmông chiếm 30%, còn lại là các dân tộc khác. Dòng họ của người Giáy ở đây gồm: họ Hoàng, họ Trương (họ Trang theo tiếng Trung Quốc), họ Đặng (họ Tẩn theo tiếng Trung Quốc), họ Lục (họ Lù theo tiếng Trung Quốc), họ La (họ Lò theo tiếng Trung Quốc), họ Lý, họ Vang.

Người Giáy sống tập trung ở thung lũng, gần nguồn nước để làm ruộng nước. Người Giáy ở nhà sàn. Nhà có điều kiện thì làm 5 gian, nhà bình thường làm 3 gian. Phổ biến là kết cấu theo vì kèo 3 hoặc 5 hàng cột, giữa là cột chống nóc. Cửa chính (tu tráng) nằm ở gian giữa, bao giờ cũng thẳng hướng bàn thờ. Gian giữa (hông tráng) là gian tiếp khách và đặt bàn thờ tổ tiên. Hai gian bên được phân định thành các không gian nhỏ để làm bếp, buồng ngủ của vợ chồng chủ nhà và con cái, nơi để một số công cụ sinh hoạt. Mái nhà lợp bằng cỏ gianh. Bậc thang lên sàn bao giờ cũng là số lẻ.

Về trang phục, nam giới trước đây mặc quần lá tọa, áo 5 thân, xẻ nách buông dài tới gối, đầu vấn khăn. Y phục có chung một màu chàm sẫm. Phụ nữ cũng mặc áo 5 thân dài, xẻ nách, tay áo rộng. ở cổ áo và tay áo viền bằng vải màu xanh, màu vàng. Váy che kín gối và xòe rộng. Màu sắc chủ đạo cũng là màu chàm sẫm.

Nghề nghiệp chính của người Giáy ở thôn Sang Phàng là nghề nông và nghề dệt vải. Nghề dệt vải đã bỏ lâu nên thế hệ sau không còn biết. Nghề nông trồng chủ yếu là cây ngô và lúa. Hiện nay, ngô được trồng hai vụ thu-đông, lúa trồng từ tháng 5 tới tháng 9 hoặc tháng 10 thì thu hoạch.

Đám cưới của người Giáy trải qua ba nghi lễ: ăn hỏi, lễ cưới và lại mặt. Đặc biệt, phải 3 năm sau lễ ăn hỏi (còn gọi là lễ đặt trầu cau) thì người Giáy mới tổ chức lễ cưới với mục đích để thử thách tình yêu của đôi trai gái. Ngày trước, người Giáy chỉ được lấy nhau trong cùng dân tộc nhưng phải khác họ, nếu cùng họ thì phải cách 3 đời. Đám cưới thường được tổ chức sau vụ thu hoạch cây lúa từ tháng 10 tới tháng giêng âm lịch.

Đám ma theo phong tục người Giáy gồm đám ma tươi (quốc phang) và đám ma khô (quốc phang rằm ta). Trong gia đình có người chết, người ta sẽ bắn súng để báo hiệu, nếu phụ nữ thì bắn 2 hoặc 4 tiếng, đàn ông bắn 3 hoặc 5 tiếng. Mọi nghi lễ trong đám ma do 1 thầy cúng và 2 thầy phụ thực hiện. Nhạc cụ gồm trống, chũm chọe, mõ. Kèn thì mời người dân tộc khác tới thổi. Đám ma khô được tiến hành nhanh hay chậm tùy theo hoàn cảnh từng gia đình, thường làm vào mùa thu. Người ta tổ chức ma khô để trả ân huệ đối với người chết, đưa linh hồn về với quê cha đất tổ.

Lễ hội của người Giáy được tổ chức vào rằm tháng bảy (14/7 âm lịch) và Tết nguyên đán. Lễ cơm mới diễn ra vào tháng chín, thường cúng cốm, xôi để tạ ơn thần linh đã phù hộ một vụ mùa bội thu.

2. Âm nhạc dân gian

Người Giáy có năng khiếu đặc biệt về ca hát, gọi là vươn hay phươn đều có nghĩa là hát. Ca hát được tổ chức trong nhiều cuộc vui của dân bản như hát khi khách đến bản, hát trong đám cưới, hát vào nhà mới, hát mừng thọ, hát mừng năm mới. Nam thanh nữ tú muốn hát được phải tới học thầy. Trong làng có vài ba thầy (pô sảy) có thể là nam hoặc nữ. Thầy có sách dạy bằng chữ Hán. Thầy thường dạy tại nhà hoặc ngay tại những buổi hát ở cộng đồng trong ngày lễ hội như rằm tháng 7, năm mới v.v…

Tay pộp bản cúc phươn (Hát khi khách đến chơi bản) diễn ra vào sau mùa thu hoạch (từ tháng 10 đến sau Tết), trai gái bản tới thăm nhau. Trước kia, người Giáy ở thôn Sang Phàng thường lên chơi các xã Cao Sơn, Cao Minh, Nga Đồng v.v… của huyện Yên Minh. Cuộc hát đối đáp trai gái thường diễn ra từ buổi tối cho tới sáng ngày hôm sau. Số lượng người không hạn chế, nhưng ít nhất mỗi bên phải có 2 người. Một buổi hát thường gồm những bài bản sau:

Tinh nhỉa (Mời nghe) - khi khách tới chơi, chủ nhà phải hát trước để mời
  khách nghe.

Hừn hánh (Mời lên giọng) - chủ nhà hát mời khách lên giọng

Rủ đệt thếm rủ đáy (Khách đối đáp) - khách hát là chính, chủ nhà phụ họa theo

Nái bản nái ran (Khách hát ca ngợi quê hương bản làng)

Phươn cây hắn (Hát gà gáy sáng)

Phươn bào slao (Hát giao duyên) - đôi bên hát tâm đầu ý hợp đến khi gà gáy sáng mới chuyển sang hát giao duyên

Phươn pek (Hát chia tay) - nói lên nỗi buồn của chủ nhà, tình cảm bịn rịn, quyến luyến không muốn chia tay

Hát trong đám cưới diễn ra vào buổi tối ở nhà trai để chúc mừng hạnh phúc cho cô dâu chú rể. Đôi bên nam nữ sẽ hát các bài:

Phươn pảo (Hát chúc phúc cho cặp vợ chồng trẻ)

Phươn bào slao (Hát giao duyên)

Phươn cốc lầu (Hát về lịch sử nguồn gốc làm rượu)

Phươn nả lầu (Hát mâm rượu) - hát ở mâm rượu, hỏi thăm về các loại rượu

Hẩu ràn mồ (Hát vào nhà mới) được tổ chức khi gia chủ hoàn thành xong nhà mới mời bà con tới chung vui. Người Giáy thường dựng nhà vào tháng 10 khi mùa thu hoạch đã xong. Lễ vào nhà mới được tổ chức trong vòng nửa ngày. Lúc này không có Phươn bào slao (Hát giao duyên) mà chỉ có Phươn tôi (Hát đối đáp) giữa chủ nhà và bà con hàng xóm. Trong buổi lễ có hát Pảo ràn mồ (Hát chúc mừng nhà mới) và Pảo phúc (Hát chúc phúc làm ăn).

 

So với ca hát thì nhạc đàn của người Giáy ở thôn Sang Phàng khá khiêm tốn. Trước đây, người dân biết sử dụng các nhạc cụ như dìn xìn (đàn nguyệt - đàn dây gẩy mặt tròn, có 2 dây), nhi dền (nhị - đàn dây kéo, có 2 dây), pồ bơ máy (kèn lá). Đến nay, người dân chỉ còn chơi được pồ bơ máy hay một số nhạc cụ trong cúng lễ như chuống (trống), nao (chũm chọe), moong (mõ).

 

III. DÂN TC DAO (nhóm DAO CHÀM) THÔN NM ĐĂM,
X
à QUN B, HUYN QUN B, TNH HÀ GIANG

1. Đời sống và văn hóa

Dân tộc Dao phân bố ở hầu khắp các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, trong đó tập trung nhiều nhất ở tỉnh Hà Giang. Dân tộc Dao đứng thứ ba sau dân tộc Hmông và Tày, chiếm khoảng 15,4% dân số toàn tỉnh. Tại Hà Giang hiện nay có 4 nhóm Dao là Dao đỏ (Dao đại bản), Dao áo dài (Dao chàm), Dao tiền (Tiểu bản) và Dao quần trắng.

Người Dao ở thôn Nậm Đăm là Dao chàm chiếm 100% dân số toàn thôn. Dòng họ người Dao trong bản gồm họ Lý, họ Phàn, họ Tráng, họ Tẩn, trong đó họ Lý là họ lớn.

Về nhà truyền thống, trước đây người Dao chọn mảnh đất dốc làm nhà nửa sàn nửa đất. Cùng với dân tộc Hmông, người Dao thích sống ở miền núi cao. Nhà sàn thường có 3 gian, cầu thang chính đi vào từ gian bên cạnh. Cầu thang quy định là bậc lẻ thường 7 hoặc 9 bậc. Cầu thang phụ ở gian trong cùng. Gian giữa có bàn thờ tổ tiên và là nơi để tiếp khách. Các gian còn lại là nơi ngủ của các thành viên trong gia đình. Hiện nay, nhà người Dao là nhà đất trình tường.

   Về trang phục, phụ nữ Dao chàm mặc áo dài, quần, khăn đội đầu, dây lưng, xà cạp và đồ trang sức bằng bạc. áo dài nữ khoét nách, cổ tròn, có khuy cài bên nách bằng nhôm hoặc bằng bạc. Khăn đội đầu hình vuông, có hai dây tua dài ở hai góc liền kề. Dây lưng được làm bằng vải đỏ không trang trí hoặc vải trắng đính nhiều mảnh bạc xếp lớp như vảy rắn. Quần cắt theo kiểu chân què, cạp lá tọa. Trang phục cô dâu không khác ngày thường nhưng là bộ mới, đội mũ bằng bạc, trên trùm một cái khăn đỏ hoặc đen kín xuống tận mặt và đeo nhiều trang sức. Bộ nam phục gồm có khăn đội đầu, quần theo kiểu chân què, cạp lá tọa và đều nhuộm màu đen hoặc màu chàm.

Cổ phà (lễ Cấp sắc) là một lễ tục để báo cho tổ tiên là đứa trẻ đã trở thành người lớn và mong muốn trở thành người tốt. Lễ này thường được tổ chức từ tháng 10 đến Tết âm lịch dành cho nam thanh niên người Dao chàm có độ tuổi từ 8 đến 16. Khi làm lễ Cổ phà phải có 4 quyển sách bằng chữ Dao-Nôm: 02 quyển dành cho bên âm (khi cúng xong sẽ đem đốt) và 02 quyển dành cho bên dương (đến khi chết sẽ đem đi theo). Lễ Cổ phà do 7 thầy cúng thực hiện: Tào coỏng (thầy chính), Rằy coỏng (thầy phụ), Rằy nhầy (thầy dẫn người con trai, kiêm viết 4 quyển sách), Tà thấy (thầy dựng bàn, vừa là người thắp hương), Tà ngầu (thầy làm thang), Tà gù (thầy nấu ăn 1), Tà kiệt (thầy nấu ăn 2). Hiện nay, lễ Cổ phà của người Dao chàm ở thôn Nậm Đăm diễn ra trong 1 ngày 1 đêm.

Đám cưới của người Dao chàm tiến hành qua 3 bước. Bước thứ nhất lấy trầu cau, hai đồng tiền, gói thuốc lào sang nhà gái xin dạm hỏi. Bước thứ hai mang gà sang nhà gái, hai bên thông gia trao đổi cụ thể về thời gian, lễ vật, số người đi đón và đưa dâu. Bước thứ ba là ngày cưới. Sau khi nhà trai mang lễ vật cúng báo tổ tiên xin cô dâu về, nhà gái phải cõng cô dâu khoảng 100m. Người Dao theo chế độ phụ hệ, bởi vậy cư trú sau hôn nhân là ở nhà chồng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp chú rể sang cư trú nhà vợ một thời gian nhất định, tùy theo sự thỏa thuận giữa hai nhà trước khi cưới. Trường hợp ở rể cả đời hiếm xảy ra, chỉ khi nhà gái không có con trai.

Đám ma của người Dao gồm đám ma tươi (dành cho người mới mất) và đám ma khô (sau 1 năm). Khi nhà có người mất, người nhà sẽ tắm sạch cho người mất bằng nước hương. Nếu người chết là nam giới phải cạo trọc đầu và lấy khăn, quần áo mới ra mặc. Thầy cúng trong đám ma gồm Tào coỏng (thầy chính), Nhầy tào (thầy phụ), ngoài ra mời thêm một số người khác đi giúp việc. Trong khi các thầy làm lễ cúng, bà con hàng xóm và họ hàng đi lấy củi, tập trung lại ở mảnh đất gần rừng, xếp thành 9 tầng để chuẩn bị đưa quan tài ra đốt. Trên đường từ nhà ra chỗ hỏa táng, ban nhạc gồm (chiêng bằng), lò phạt cóng (chũm chọe đực), lò phạt nhầy (chũm chọe cái), dzú kiền (trống 2 mặt), bùng plé (kèn gỗ, loa đồng, có 7 lỗ) đi trước, thầy tào đi sau. Con trai của người mất phải bò dưới gầm quan tài. Con dâu, con gái đi sau quan tài. Quan tài được đặt lên trên đống củi. Người con trai làm phép để bật nắp quan tài lên, chỉnh lại tư thế nằm của người chết, lấy một vật của người chết (có thể chỉ là chiếc cúc áo), sau đó cầm một bó đuốc đi quanh đống củi 3 vòng, quì sang phía Đông đưa ngọn đuốc qua đầu, về phía sau giao cho thầy Tào coỏng. Thầy Tào coỏng châm đuốc đặt vào đống củi ngoài quan tài, sau đó lấy một cây nến đặt vào ngực người chết. Đốt xong, 3 ngày hôm sau người nhà mới đi nhặt xác. Ông thầy chính nhặt trước, bới tro tìm xương cho vào cái chum. Tất cả các con nhặt xương cho vào chum. Nữ trang của người chết nếu không cháy hết mà nhặt được về là điềm tốt. Đem chôn chum vào mộ. Đám ma khô được tổ chức sau ít nhất một năm (nếu nhà có điều kiện) với mục đích để gọi hồn về bàn thờ.

 

2. Âm nhạc dân gian

Người Dao chàm ở thôn Nậm Đăm, xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ sở hữu không nhiều nhạc cụ.

Nhạc cụ màng rung có:

Dzú kiền là trống hai mặt đặc trưng của người Dao. Mặt trống (dzú mìn) được làm từ da con sơn dương. Đường kính mỗi mặt khoảng 19cm. Tang trống cao 23cm. Mặt trống gắn với tang trống bằng hệ thống nêm được làm từ gỗ lát, buộc chặt bằng dây mây. Khi căng mặt trống, người chơi dùng búa gõ vào những chiếc nêm gỗ này. Theo tập quán, trống đánh trong đám ma thì mặt da phải có lông, nếu không có thì trống chỉ dùng trong đám cưới. Trống được đánh bằng 2 dùi gỗ (dzú pia) dài 30cm, đường kính 1cm.

Nhạc cụ tự thân vang có:         

(chiêng bằng) với đường kính 37cm, cao 8cm. Lò được đúc từ đồng hun. Lò được đánh bằng một dùi dài 53cm, một đầu bịt vải. Âm thanh của lò trầm và vang xa. Lò thường dùng trong các nghi lễ lớn và đệm cho múa.

Lò phạt cóng (chũm chọe đực) được đúc bằng đồng hun, gồm hai chiếc, mặt ngoài có núm. Đường kính mặt ngoài là 31,5cm, đường kính núm là 7cm, chiều cao là 2cm. Người diễn tấu cầm lò phạt cóng đập vào nhau tạo nên âm thanh chói, vang và khỏe.

Lò phạt nhầy (chũm chọe cái) cũng gồm hai chiếc, mặt ngoài có núm. So với chũm chọe đực, chũm chọe cái có kích thước nhỏ hơn nhưng riêng núm lại to hơn. Đường kính mặt ngoài là 26,5cm, đường kính núm là 18cm. Lò phạt cóng và lò phạt nhầy thể hiện quan niệm âm dương của người Dao, được chơi trong đám ma, lễ Cổ phà, lễ Tết nhảy.

Các nhạc cụ này không dùng trong sinh hoạt hàng ngày mà vai trò chính là sử dụng trong các nghi lễ tín ngưỡng. Riêng bùng plé (kèn gỗ loa đồng có 7 lỗ), trước kia người Dao có sử dụng nhưng hiện nay không ai biết thổi nên trong đám ma phải thuê người Hmông.

  

 
3. Múa dân gian

Nghệ thuật múa của người Dao chàm ở thôn Nậm Đăm, xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ được bảo lưu khá tốt bởi chúng thường nằm trong các nghi lễ lớn như lễ Cổ phà, Tết nhảy, tang ma... Những điệu múa này thường do đàn ông thực hiện và không thể thiếu sự tham gia của các nhạc cụ đi tiết tấu như dzú kiền, lò, lò phạt cóng, lò phạt nhầy.

Tòng dú là điệu múa mở đầu cho buổi Cổ phà hay trong đám ma. Một người chơi lò phạt cóng, một người chơi lò phạt nhầy. Họ vừa chơi nhạc cụ vừa múa, đi theo vòng ngược chiều kim đồng hồ từ thấp đến cao. Đi 3 vòng, vòng đầu múa sát mặt đất, vòng hai múa ngang đầu, vòng ba múa qua đầu giống như mặt trời mọc từ thấp đến cao dần. Ngoài ra, còn hai người chơi dú kiền và lò ngồi một chỗ đánh. Khi múa, động tác diễn ra chậm. Trong lễ Cổ phà múa chừng 30 phút, trong đám ma múa khoảng 1 giờ.

Tìu piêu là điệu múa tượng trương cho một con chim sầm pin (một loại chim bé, bay rất khéo, khi bay đuôi xòe ra rộng) đang bay ngậm một tờ giấy vàng, trong đó viết tên của 12 vị thánh. Tìu piêu do một người múa theo hình số 8, thường bay 3 vòng. Ngoài ra, còn có một người đại diện cho tổ tiên, ngồi quay lưng lại bàn thờ nhận tờ giấy vàng; một người đánh dzú kiền, một người đánh lò. Kết thúc điệu múa đem tờ giấy ra ngoài đốt. Tìu piêu là điệu múa trong lễ Cổ phà.     

Khòa văn có nghĩa là vui múa, mừng đứa trẻ đã được sinh ra một cách trọn vẹn. Đây là điệu múa hay nhất trong quá trình làm lễ Cổ phà. Bà con muốn chờ xem điệu này vì có đứa con trai chịu lễ Cổ phà cùng nhảy. Điệu múa được diễn ra trong nhà, trước ban thờ. Những người múa, xếp đội hình vòng tròn, chuyển động ngược chiều kim đồng hồ. Múa có 3 bậc, mỗi bậc quay ba vòng. Nhảy từ cao xuống thấp.

Đội múa gồm có năm nhân vật: Rằy nhầy (thầy dẫn đứa con trai) là người múa chính, một tay cầm tùng tên (mảnh gỗ), một tay cầm màn ghìn (chuông nhỏ); Tầy sây (đứa con trai chịu lễ Cổ phà) cầm 2 quyển sổ dương được cuốn trong một mảnh vải, trong đó còn có 36 đồng xu; Clong pha (ông mặt nạ) là người từ trên rừng cao xuống, cũng là người xua đuổi ma quỷ, tay cầm crong chống (cái nỏ) để bắn tan đi những điều xấu; Clong ghi (nam đóng giả nữ là mẹ) bế một đứa con giả, mong sau này người đang được làm Cổ phà khi lập gia đình sẽ sinh con đẻ cái; ón tàn là người thay mặt thầy Rằy coỏng (thầy phụ) nhảy. Nếu không có ón tàn nhảy thì ông Rằy coỏng phải nhảy. Ngoài ra, còn hai thầy phụ ngồi đánh dzú kiền và lò.

Vản pùng là điệu múa kiếm trong lễ Cổ phả. Thầy Rằy nhầy dạy đứa trẻ chịu lễ Cổ phà múa kiếm. Ngoài ra, khi múa còn có những động tác như bịt tai, xoa tóc v.v… tượng trưng cho việc dạy dỗ đứa trẻ vượt qua mọi điều khó khăn. Nhạc cụ đệm cho múa gồm dzú kiền và lò, do hai thầy phụ ngồi ngoài đánh.

 

Giàng sều là điệu múa trong lễ Cổ phà với ý nghĩa đi cắm đất ruộng cho tổ tiên. Khi múa đi chậm như một con trâu, theo hình zích zắc, không nhảy. Đội múa gồm bảy nhân vật: Rằy nhầy (thầy dẫn đứa con trai) tay cầm lưỡi cày bằng giấy và lò phạt cóng; Tào coỏng (thầy chính) tay cầm cờ trắng dài bằng giấy, trong cờ có viết tên tổ tiên cùng đi với mình; Tầy sây (đứa con trai chịu lễ Cổ phà) cầm 2 quyển sổ dương; Clong pha (ông mặt nạ) cầm nỏ; Cloong ghì (nam đóng giả nữ là mẹ) bế đứa con giả; Pò tào coỏng (thầy phụ đi theo thầy Tào coỏng) chơi lò phạt cái; Châu (nhà chủ).

Tào ba điệu múa nhằm quét sạch ma quỷ đến quấy nhiễu buổi lễ Cổ phà. Điệu múa do thầy Rằy coỏng cầm kiếm thật xua đuổi ma quỷ và thầy Pò rằy coỏng (thầy phụ của thày Rằy coỏng) cầm kiếm gỗ. Điệu múa được thực hiện trước ban thờ, múa ba bậc từ thấp lên cao theo hình chữ X, nhưng bậc ba múa mạnh nhất.

Lòng chòng là điệu múa diễn ra trong đám ma khô của người Dao chàm để chuẩn bị đón người chết về bàn thờ ở nhà. Điệu múa do Rằy coỏng đánh lò phạt nhầy, Pò rằy coỏng đánh lò phạt cóng, hai người múa cầm con rồng làm bằng rơm khô, cuốn giấy màu xanh và màu vàng ở bên ngoài. Con xanh tượng trưng cho việc đi gọi báo cho hồn người chết là chuẩn bị có người đến đón. Con vàng tượng trưng cho người xem mình làm đám ma khô. Các thầy múa ba vòng ngược chiều kim đồng hồ. Nhạc cụ tham gia đệm cho điệu múa có dzú kiền và lò, do hai người ngồi ngoài đánh.

 

KT LUN

Hà Giang, một tỉnh ở cực Bắc tổ quốc, nơi sinh sống của 14 dân tộc anh em đã tạo nên sự đa dạng về văn hóa cho mảnh đất nơi đây. Từ những năm 60 thế kỷ XX, Viện Âm nhạc đã từng tới sưu tầm âm nhạc của các dân tộc ở huyện Hoàng Su Phì, huyện Xín Mần, huyện Vị Xuyên, huyện Yên Minh, huyện Đồng Văn, huyện Quản Bạ. Năm 2009, Viện Âm nhạc lại trở về với Hà Giang để nghiên cứu sâu hơn về sinh hoạt âm nhạc của người Hmông, người Giáy, người Dao ở huyện Quản Bạ.

Chúng tôi nhận thấy người Hmông ở thôn Hợp Tiến, xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ đã bảo lưu khá tốt phong tục tập quán, văn hóa truyền thống cũng như sinh hoạt âm nhạc dân gian. Người Hmông không chỉ giỏi ca hát với một kho tàng phong phú các câu chuyện thần thoại mà còn là chủ nhân của khá nhiều nhạc cụ phong phú. Các nhạc cụ của họ chủ yếu được làm từ những nguyên liệu trong thiên nhiên. Kềnh (khèn) với vòi thổi dài và trùa ta (trống ma) dùng trong đám ma là những nhạc cụ bị nhiều tập tục của người Hmông chi phối. Dù là nhạc cụ thổi trong đám ma, nhưng kềnh còn là người bạn đồng hành của các chàng trai Hmông trong mỗi phiên chợ. Người con gái xúng xính trong bộ váy lanh cầm ô che và chàng trai thổi kềnh đã trở thành hình ảnh tượng trưng cho người Hmông. Người Giáy ở thôn Sang Phàng, xã Đông Hà, huyện Quản Bạ sở hữu khá khiêm nhường về nhạc cụ, nhưng họ lại có giọng hát làm say đắm lòng người. Vươn hay phươn nghĩa là hát, có mặt trong nhiều cuộc vui của dân bản như khi khách vào làng, trong đám cưới, hát vào nhà mới, hát mừng thọ, hát mừng năm mới… Nếu người Giáy có sở trường về ca hát thì người Dao chàm ở thôn Nậm Đăm, xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ lại nổi trội về những điệu múa dân gian. Các nhạc cụ tham gia thường là những nhạc cụ đi tiết tấu để tạo nhịp cho điệu múa. Những nghi lễ chính trong cuộc đời con người như lễ Cổ phà, tang ma, Tết nhảy chính là môi trường bảo lưu tốt những hình thức múa và âm nhạc dân gian.

Dự án “Hỗ trợ Văn hóa Việt Nam vì sự phát triển bền vữmg, 2005-2009” được tài trợ bởi Quỹ SIDA - Thụy Điển,do Viện Âm nhạc thực hiện trên địa bàn ba dân tộc ở huyện Quản Bạ năm 2009, là một dịp giúp bà con khơi dậy lòng say mê, sự quan tâm của lớp trẻ đối với âm nhạc mà cha ông truyền lại. Dự án không chỉ dừng lại ở việc sưu tầm, điền dã mà còn tuyển chọn nghệ nhân, mở lớp truyền dạy cho lớp trẻ. Thời gian tổ chức lớp học từ tháng 6 tới tháng 7 là khoảng thời gian các em nghỉ hè nên khá thích hợp với những sinh hoạt tại địa phương. Tháng 8 năm 2009, Viện Âm nhạc phối hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang đã tới nghiệm thu ba lớp học.

- Lớp học âm nhạc, múa dân gian của người Hmông trắng ở thôn Hợp Tiến, xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ có 15 học viên do 3 nghệ nhân truyền dạy. Bên cạnh việc học hát dân ca, các học viên còn được học múa kềnh, múa ô. Tuy nhiên, chưa có học viên nào thổi được kềnh vì theo nghệ nhân muốn thổi kềnh hay phải học khoảng 2 năm.

- Lớp học âm nhạc của người Giáy ở thôn Sang Phàng, xã Đông Hà, huyện Quản Bạ đã tập hợp được 10 học viên do 2 nghệ nhân truyền dạy. Theo đánh giá của nghệ nhân Trương Xuân Bình, các em đã thuộc lời ca nhưng giọng hát thì phải có thời gian tập thêm mới chuẩn.

- Lớp học âm nhạc và múa dân gian của người Dao chàm ở thôn Nậm Đăm, xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ có 11 học viên do 2 nghệ nhân truyền dạy. Các em đã chơi được một số nhạc cụ như dzú kiền (trống), lò (chiêng bằng) kết hợp với một số điệu múa trong lễ Cổ phà.

Có thể nói, việc mở lớp truyền dạy âm nhạc dân gian là một hướng đi đúng đắn, là cơ hội để chính người dân địa phương tham gia vào việc bảo tồn văn hóa truyền thống, nâng cao lòng yêu thích, trình độ thưởng thức âm nhạc của lớp trẻ và cũng là cơ sở để Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang tiếp tục triển khai xây dựng làng văn hóa du lịch nhằm quảng bá về âm nhạc dân gian trong thời gian tới.

 

 



[1]. Lê Duy Đại, Triệu Đức Thanh (chủ biên): Các dân tộc ở Hà Giang. Nxb. Thế giới, Hà Giang, 2008, tr. 30.

Thêm một trao đổi