Tổ chức Nghệ thuật Đờn ca Tài tử Nam Bộ

14-02-2020, 19:10

TS Nguyễn Thị Mỹ Liêm

Không biết từ bao giờ, cái tên “nhạc Tài tử” (hay “Đờn ca Tài tử) đã trở thành chính thức, quen thuộc cho một thể loại âm nhạc ở Nam bộ. Nếu dựa vào cách tổ chức các buổi đờn ca của thể loại này, người ta gọi đó là loại “nhạc thính phòng”. Với trình độ điêu luyện của người chơi đàn, hệ thống bài bản và các “chuẩn mực” học thuật mà họ tự quy ước với nhau, thì đó là thể loại âm nhạc chuyên nghiệp.

Nhưng nếu xét cách đờn ca phóng khoáng - ngẫu hứng, kiểu thưởng thức, phương thức trao truyền, và kể cả tâm thế, cách hiểu cũng như mục đích chơi đàn của các nghệ sĩ trong giới… thì chính họ cũng tự cho mình chỉ là “tài tử”!
Nhạc giới thường tự cho mình là “chơi”, là “tài tử” chứ không chuyên nghiệp. Với tên gọi “phong trào đờn ca”, mặc nhiên thể loại này được xem là “nghề chơi” của nhiều người, là lối chơi nghệ thuật được nhiều người ưa chuộng, làm theo và không phải chuyên nghiệp. Nhưng lối chơi này đã thể hiện tính nghệ thuật với những đóng góp học thuật âm nhạc hết sức chuyên nghiệp; nhiều tên tuổi của các nghệ sĩ, nhạc sĩ... đã trở thành những huyền thoại trong nghệ thuật trình diễn và những sáng tạo của họ đã để lại cho chúng ta nghệ thuật Đờn ca Tài tử phong phú như ngày nay.

1. Đờn ca Tài tử - thú chơi tao nhã:
Vào cuối nửa sau thế kỷ XIX, ngoài ban nhạc Lễ chuyên lo âm nhạc cho các nghi thức lễ bái (quan, hôn, tang, tế) ở Nam bộ, người ta thấy xuất hiện những “nhóm nhạc đờn cây”, những nhóm nhạc sĩ, nghệ sĩ hoặc những tay đàn tự học, thích chơi đàn, hòa ca. Họ sử dụng đàn kìm, cò, tranh, độc huyền… (không có bộ gõ như dàn nhạc Lễ) hòa đàn - ca, phong cách chơi nhạc tao nhã, giữa những người tri kỷ, tri âm.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, phong trào đờn cây và sau đó trở thành Đờn ca Tài tử là phong trào chơi nhạc trong dân chúng, gồm “những người biết nhạc, trau dồi nghệ thuật, tập đờn ca cho vui…”, phong trào này lan truyền rộng rãi ở Nam bộ. Tên gọi “Đờn Tài tử”, “Ca Tài tử”, “Nhạc Tài tử” có thể đã lưu truyền nhưng đến những năm đầu thế kỷ XX, tên gọi của thể loại này mới xuất hiện trên báo chí, sách vở. Điển hình là những tập bài ca, bản đờn được đặt tên “Tứ Tài tử” (1911), “Lục Tài tử” (xuất bản 12 Juin 1915), “Thập Tài tử” (xuất bản 15 Juin 1915), “Bát Tài tử” (xuất bản 29 Aout - tháng 8- năm 1915)... tất cả đều do nhà in “de L’Union” xuất bản.
Như vậy, ở miền Nam lúc đó đã có một thú chơi âm nhạc tao nhã: “cùng nhau đờn ca vui chơi”… mà, nhạc sĩ Phạm Duy đã giải thích: “Trong khi ở miền Bắc, hát Ả Đào đã thoát khỏi hình thức hát Cửa quyền, trở thành thú chơi tao nhã của Nho sĩ, thì ở Thuận Hóa (Huế), kinh đô của nhà Nguyễn, các hoàng thân và quan chức trong triều cũng sáng lập ra một loại ca nhạc thính phòng mà về sau gọi là Ca Huế. Loại ca nhạc có tính chất tài tử này xuất xứ từ nơi lầu son gác tía, sẽ nhanh chóng vượt khỏi biên giới thành phố Huế để được dừng lại tại mấy tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi… Những thầy đờn người Quảng lại đem loại nhạc miền Trung vào dạy cho những người yêu nhạc miền Nam, để sau này không lâu, một loại nhạc phòng nữa lại ra đời, hội đủ các yếu tố âm nhạc Huế, Quảng và địa phương và mang cái tên NHẠC TÀI TỬ MIỀN NAM…” .
Trong một bài giảng cho chúng tôi, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo miêu tả nhạc Tài tử - thú chơi tao nhã của người miền Nam như sau:
“Tại miền Nam, từ thành thị đến thôn quê, đâu đâu cũng có người chơi nhạc Tài tử. Năm mười người kết hợp lại thành nhóm, nhóm nào chơi theo nhóm nấy. Ngoài ra cũng chơi giao lưu với những nhóm khác để học hỏi, trao đổi hay so tài cao thấp.
Họ xem âm nhạc như một thú vui phong lưu, tao nhã nên lúc rỗi rảnh tổ chức đàn ca chơi với nhau, nhứt là về đêm. Địa điểm thì luân phiên. Hôm nay tại nhà nhạc sĩ A, hôm khác tại nhà nhạc sĩ B. Cuộc chơi thường khi là không có chương trình, không tính trước ai sẽ đàn với ai và đàn bản gì, cho ai ca... Ai thích đàn với ai thì “bắt cặp” mà đàn.
Trong hai mươi (20) bài Tổ, tùy hứng, thích bản nào thì đàn bản đó. Tuy nhiên mở đầu là đàn bản Bắc - vui. Gõ song lang thì giao cho nhạc sĩ cao tay nghề, thường khi là nhạc sĩ đàn kìm hay đàn tranh.
Với ý là mượn tiếng đàn để nói chuyện với nhau nên phong cách đàn rất là “tiên phong - đạo cốt”, chắt chiu từng nốt đàn; câu nhạc tròn vành, rõ nghĩa; hòa đàn nghe tiếng đàn “lặn - mọc”, kẻ tung, người hứng; khi cao hứng, xuất “độc chiêu” để “thử lửa” nhau chơi.
Thính giả lắng nghe rất kỹ từng cây đàn, về việc đàn có đúng căn bản không, nghệ thuật sắp chữ, sắp nhịp; màu âm, nốt đàn, cách tô điểm, trang trí nốt đàn; ngón đàn tươi mướt hay ngón “chai”, khô khan; kể cả giọng của ca sĩ, lời viết cho bài ca...
Thính giả mộ điệu cũng được tự do xin vào đàn hay ca chơi vài bản. Việc này cho thấy, buổi đàn ca là sân chơi chung của người đàn lẫn người nghe. Cuộc chơi thường khi là về đêm, có khi kéo dài đến sáng. Nhạc Tài tử ngày xưa gọi là “nhạc cổ điển”, nên do đó mới có câu “Nhạc cổ điển chơi tới kiểng đổ”!”.

2. Đờn ca Tài tử - ca nhạc thính phòng

Có thể, ban đầu từ chỗ đàn ca chơi giữa những người không chuyên, chỉ để giải trí, sẵn là những tay đờn ca chuyên nghiệp của ban nhạc Lễ, nhiều nhạc sĩ tụ họp nhau lại thành ban nhạc đàn ca chơi hoặc chuyên đờn ca phục vụ tại các tư gia, các lễ đám. Trong những buổi đờn ca ấy, cả chủ nhân (nếu biết chơi nhạc) cũng sẵn sàng cùng những nhạc sĩ hòa đờn - hòa ca. Chủ - khách cùng nhau trao đổi tiếng đàn, ý nhạc, cùng giới thiệu cho nhau nghe những tìm tòi mới lạ của mình và cùng thưởng thức. Phong trào lan rộng bởi người miền Nam sẵn có tính thích văn nghệ, đờn ca .
Các cuộc Đờn ca Tài tử được tổ chức tại nhà riêng, trong bầu không khí thân mật giữa vài người bạn, biết đờn, biết ca và một số bạn bè thân thuộc, những người yêu thích mà tính cách cuộc chơi là giải trí. Giới “thượng lưu”, những nhà danh giá, trí thức… ở miền Nam thời trước thích mời nghệ sĩ đến chơi nhạc ở nhà. Họ yêu chuộng tiếng đàn của nghệ sĩ nào đó, mời đến dùng cơm, trò chuyện và “cao hứng” mở ra một cuộc hòa đờn như không chủ ý từ trước. Cũng có thể là một buổi họp mặt giữa những người bạn, gia chủ biết nhạc, thích đờn mà trong số thực khách có những tay đờn, thì sau buổi tiệc sẽ là buổi trà có Đờn ca Tài tử. Chủ khách cùng chơi, bạn bè cùng thưởng thức. Người nghệ sĩ cũng có thể từ chối nếu không cảm thấy hứng thú. Là “chơi”, nên không ai bắt buộc ai, phải thật lòng thấy thích, thấy hứng thì tiếng đàn, lời ca mới thực sự bay bổng, mới thực sự là tài tử!
Từ những năm 30 thế kỷ XX đến mãi sau này, những năm 60 - 70... những buổi đàn - ca ấy rất thịnh hành trong giới trí thức, thượng lưu ở Sài Gòn. Nhà bác sĩ Lê Tấn Châu (số 85 Sương Nguyệt Anh, quận I, TP HCM ngày nay), bác sĩ Nguyễn Văn Nhã (thân phụ bà luật sư Nguyễn Phước Đại, ở số 38 - 40 đường Nguyễn Du, quận I), bác sĩ Nguyễn Văn Bửu (lúc đó là Giám đốc bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn), Tham tá (commis) Bùi Văn Hai, tùng sự tại Bộ Ngoại giao (chính phủ Ngô Đình Diệm), bác sĩ Phan Văn Đệ (Giám đốc bệnh viện Chợ Rẫy (Hopital Lalung bonnaire) ở Chợ Lớn... là những địa chỉ quen thuộc của các buổi đàn ca thời đó .
Đến chơi với chủ nhà ngoài những người bạn thân thiết, những người trong giới còn có những ban nhạc Tài tử, những tay đàn nổi tiếng. Ở Sài Gòn lúc đó, người ta thích mời ban nhạc Tài tử của ông Cao Huỳnh Diêu - một trong những ban nhạc nổi tiếng nhất miền Đông, họ gồm: Nguyễn Văn Thinh (đàn kìm), Châu Văn Sáu (ông Ba Laitiere, đàn tranh), Tám Đuổi (đàn cò), Ba Đồng (đàn cò), Sáu Thới (thổi tiêu), Tư Bường (đàn bầu), Tư Kiên (đàn tam)… Về ca, gồm các bà: Tư Cần Đước, Hai Quạ (phu nhân nhạc sư Chín Kỳ, Nguyễn Văn Kỳ), Bà Ba Nhơn…
Nhiều nhóm nhạc Tài tử khác cùng với những tên tuổi các nghệ sĩ tài danh đã để lại trong lòng người mộ điệu những tiếng đàn huyền thoại của mình: Nguyễn Văn Kỳ (Chín Kỳ), Pham Văn Nghi (Tư Nghi) - đàn kìm, tranh, cò, gáo; Trương Văn Đệ (Bảy Hàm) - đàn kìm; Hà Văn Tân (Chín Trích) - đàn cò; Hai Thanh (Đài phát thanh Pháp Á), Ba Phụng - đàn kìm (là người sáng tạo dây Hò ba); Nguyễn Thế Huyện (Tư Huyện), Hai Thơm - đàn cò, kìm tranh, violon và thổi tiêu; Nguyễn Thế Quý (Sáu Quý) - đàn tranh, Mười Còn - đàn cò và violon; Năm Lòng; Năm Giai; Bảy Quế... Về ca, những danh ca được lưu tên trong giới mộ điệu không ít: Cô Mười Tân Châu, Tám Sanh, Chín Đang…
Cùng hòa đàn ca với khách có chủ nhà: bác sĩ Lê Tấn Châu (đàn tranh), bác sĩ Nguyễn Văn Nhã (đàn tranh)... hoặc những người khách cùng tham dự. Tuy có thể là cuộc chơi giữa những người bạn, những người được mời theo cách chơi “thính phòng” nhưng cuộc chơi cũng có thể là giữa những danh cầm, những nhóm nghệ sĩ tài danh. Một nhóm Đờn ca Tài tử, một nghệ sĩ tài danh miền Tây (Nam bộ) mà giới Tài tử miền Đông chuộng tiếng, cũng có thể mời nhau một buổi hòa đờn - ca để được thưởng thức tài nghe, trao đổi tiếng đàn… Trong nhạc giới cũng có những buổi Đờn ca Tài tử để thỏa mãn lối chơi, để trao đổi nghệ thuật giữa những người trong nghề…

3. Đờn ca Tài tử - nghệ thuật đờn ca dân gian

Ở Nam bộ, nhất là khu vực miền Tây, đâu đâu cũng có thể nghe được tiếng đàn ca Tài tử. Trên chiếc ghe bầu xuôi ngược buôn bán, hoặc buổi tối rảnh việc, trên chiếc chiếu trải trước sân nhà. Đôi lúc, trong đám tiệc, ma chay, cưới hỏi... của người hàng xóm, vài người biết đàn, ngồi trên bộ ván ngựa ở phòng khách chơi vài bản Bắc, bài Nam… Chủ - khách tất bật việc nhà nhưng cũng ngừng việc, ngưng chuyện trò để nghe đàn ca. Đâu đâu người dân cũng có thể nghe tiếng đờn, tiếng ca.
Người thích chơi đàn tự học bằng “tai”, họ nghe đâu đó tiếng đàn, ghi nhớ lấy rồi hát lại, đàn lại. Không ít những danh cầm sau này có buổi ban đầu đến với Đờn ca Tài tử bằng lối học này: Năm Cơ (Dương Văn Cơ), Hai Khuê (Võ Văn Khuê)…
Nhạc khí có thể là cây đàn “tự chế”, hoặc nhờ ai đó “đi Sài Gòn tậu dùm”! Nhiều người cậy cục xin được cây đàn guitare espangole nhưng tự khoét cần đàn cho lõm, tháo bớt dây (lối chơi đàn guitare phím lõm chỉ có 5 dây)... để có thể đàn được bản Bắc, bản Nam và nhất là bài Vọng cổ...
Những người bạn đến chơi nhà nhau, sau câu chào hỏi thì với tay lấy cây đàn, dạo vài câu rao… Và, cuộc hòa đờn giữa họ lặng lẽ diễn ra, hết bài này qua bài khác, hết lớp nhạc này qua lớp nhạc khác. Hết bài thì nghe gõ báo bằng hai tiếng song lang kết để rồi sau một khoảng lặng, một người trong họ lại rao lên vài câu nhạc để bắt đầu một điệu khác, một bài khác. Không một lời trao đổi nhưng họ hiểu nhau đang buồn hay vui, đang có “tâm sự” gì, và họ chia sẻ với nhau bằng tiếng đàn.
Không ít những vùng xa xôi như đảo Hòn Tre, huyện đảo Duyên Hải tỉnh Kiên Giang, các xã vùng sâu tỉnh Đồng Tháp, An Giang... nơi nào cũng có thể nghe tiếng đàn Tài tử. Gần đây, dưới hình thức các câu lạc bộ Đờn ca Tài tử, người dân tập hợp đàn ca và đôi khi còn tham gia góp vui văn nghệ cho các dịp lễ hội, tiệc vui trong làng xóm hoặc tham dự các liên hoan Tài tử.

4. Đờn ca Tài tử - ca nhạc chuyên nghiệp

Khoảng những năm 30 thế kỷ XX, Đờn ca Tài tử được các hãng sản xuất đĩa nhựa trong và ngoài nước như hãng Việt Hải, Hồng Hoa, Pathé, Béka, Ocora… thu thanh và phát hành rộng khắp miền Nam cũng như ở nước ngoài. Những danh ca, danh cầm được những người yêu nhạc biết đến cũng nhờ vào cách phổ biến, giới thiệu này. Những bài bản thu lúc này không chỉ gồm hai mươi bản Tổ mà còn có bản Vọng cổ (nhịp tám, nhịp mười sáu...). Nhạc giới thường nhắc đến băng Nam Bình I và II do nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo biên tập và tổ chức cũng như diễn tấu. Đây chính là may mắn cho hậu thế vì còn giữ được những tiếng đờn tài hoa, ngẫu hứng của nhiều thế hệ nghệ sĩ, nhạc sĩ Tài tử.
Những nghệ sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng trong làng đĩa nhựa ngày đó: Nguyễn Văn Kỳ (Chín Kỳ); Phạm Văn Nghi (Tư Nghi) - đàn kìm, tranh, cò, gáo; Trương Văn Đệ (Bảy Hàm) - đàn kìm; Hà Văn Tân (Chín Trích) - đàn cò; Hai Thanh (Đài phát thanh Pháp Á), Ba Phụng - đàn kìm (là người sáng tạo dây Hò ba); Nguyễn Thế Huyện (Tư Huyện), Hai Thơm - đàn cò, kìm, tranh, violon và thổi tiêu; Nguyễn Thế Quý (Sáu Quý) - đàn tranh; Mười Còn - đàn cò và violon; Năm Lòng; Năm Giai; Bảy Quế... Về ca có các nghệ sĩ: nam ca sĩ Năm Nghĩa, Hồng Châu, Tám Thưa, Thanh Tao, Tám Bằng, Út Trà Ôn, Minh Chí, Bảy Cao, Sáu Thoàng…; nữ ca sĩ Hai Sạn, Ngọc Nữ, Hai Đá, Ba Niệm, Ba Bến Tre, Năm Cần Thơ, Ba Trà Vinh, Bạch Huệ, Lệ Liễu…
Tuy nhiên, ít thấy những trường hợp đưa ca nhạc Tài tử lên sân khấu trình diễn như thể loại âm nhạc thính phòng phương Tây. Nếu có thì đó là chương trình biểu diễn giúp vui của nhiều nhà hàng mà điển hình như nhà hàng Đức Thành Hưng (ở quận 5) , được xem là nơi thường xuyên có chương trình giúp vui là Đờn ca Tài tử. Nhưng ngoài đội ngũ ca sĩ, nhạc sĩ được nhà hàng mời, thực khách nào muốn lên sân khấu chơi đàn đều có thể tham gia… với tinh thần đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu; tri âm, tri kỷ.
Gần đây, khi đời sống thay đổi, Đờn ca Tài tử cũng có nhiều biến đổi. Cũng vẫn còn những “nghệ sĩ”, những người yêu thích, tự học đờn ca… nhưng lực lượng chính của nhạc giới là những nhạc sĩ chuyên nghiệp, theo nghề cha truyền con nối, những thầy đờn… Người ta còn thấy những nhóm Đờn ca Tài tử biểu diễn ở nhà hàng! Ngày nay, ngoài các chương trình giới thiệu Đờn ca Tài tử trên hệ thống truyền thông đại chúng, các cuộc liên hoan Đờn ca Tài tử Nam bộ luôn được tổ chức, đã phần nào giới thiệu âm nhạc Tài tử một cách rộng khắp và quy mô. Nhạc giới Tài tử có dịp gặp gỡ, trao đổi với nhau về kinh nghiệm, kỹ thuật diễn tấu và điều đặc biệt là có dịp trao đổi với nhau những kiến thức, học thuật mang tính lý luận, lý thuyết, lịch sử của âm nhạc Tài tử.

5. Hệ thống bài bản nhạc Tài tử - khung sườn cho diễn tấu ngẫu hứng.

Những người chơi đàn Tài tử luôn thể hiện tiếng đờn, câu hát hết sức mực thước, chính thống và những chuẩn mực học thuật mà nhạc giới Tài tử đã gần như quy ước với nhau. Trong những “quy ước” của nhạc giới Tài tử, đó là hệ thống bài bản. Hơn trăm năm hình thành, phát triển…, nhạc Tài tử Nam bộ có một hệ thống nhạc mục đầy đủ được phân chia theo hơi điệu, loại bài trường - vắn, lối phân lớp - phân câu, cách thể hiện, phong cách diễn tấu… như một hệ thống học thuật chuẩn mực cho nhạc giới. Nhạc giới Tài tử công nhận hệ thống 20 bản Tổ với 4 hơi - điệu chính: Bắc, Hạ, Nam, Oán là nền tảng trên tổng số bài bản của nhạc mục lên đến hàng trăm bài. Tuy những nghệ sĩ Tài tử không ngừng sáng tạo nhưng do quan niệm là những bài bản sau này cũng không ngoài những hơi - điệu nêu trên nên số lưu truyền phổ biến không nhiều.
Dù có thể là bài mới sáng tác, nhưng để được nhạc giới chấp nhận, bài bản đòi hỏi phải tôn trọng một số nguyên tắc, trong đó điểm đầu tiên là hơi điệu. Nhưng không chỉ nguyên tắc này, rất nhiều bài bản đến nay chỉ còn được nhớ tựa bài mà không được lưu truyền trong nhạc giới vì nhiều lý do khác nữa. Đó là do những yêu cầu về nét sáng tạo mới mẻ trong điệu nhạc, những yếu tố chặt chẽ về loại bài (trường - vắn), về cấu trúc câu (câu loại nhịp một, nhịp đôi, nhịp tư hay nhịp tám…), về số câu nhạc của bài, hệ thống dây đàn khi diễn tấu (bài nào dây nấy)… Nhìn chung, để được công nhận và giữ lại trong lòng của nhạc giới Tài tử, bài bản đó phải đạt được những yêu cầu học thuật, nhưng cái lớn nhất vẫn là tính chất tinh tế, sang trọng, chỉn chu và thấm đẫm nét Tài tử - không cứng nhắc, không quá khuôn mẫu. Đó cũng là tính chất vừa khuôn mẫu, vừa linh động cởi mở của nhạc Tài tử.
Vừa hoàn chỉnh về học thuật, vừa thấm đẫm tính chân chất của người dân Nam bộ; vừa tinh xảo, điêu luyện về giai điệu, tiết tấu, vừa gần gũi với âm điệu dân gian... bài bản Tài tử là một điển hình của sự hoàn thiện về học thuật chuyên nghiệp nhưng lại hết sức dân gian trong bản sắc. Hệ thống bài bản nhạc Tài tử đã không chỉ lưu truyền trong nhạc giới mà còn là nền tảng cho nghệ thuật sân khấu Cải lương sau này.

6. Lối hòa đờn - ca Tài tử

Trong diễn tấu, bài bản Tài tử thường chỉ là một cái khung chung, với những nốt chính, cách phân chia nhịp, phách, cấu trúc của câu nhạc, số lượng câu, hơi điệu… Bài bản không ghi một cách tỉ mỉ với những chi tiết cụ thể về cao độ, tiết tấu, trường độ, nhịp độ, sắc thái… Khi diễn tấu, người nghệ sĩ Tài tử như những nhạc sĩ nhạc Jazz, hay nhạc công trong âm nhạc truyền thống Ấn Độ, châu Phi…, phải có khả năng biến hóa, sáng tạo tiếng đàn trên cái khung chung ấy. Điểm phải giữ, phải chú trọng là thang âm, hơi điệu, cấu trúc câu… còn cụ thể những chữ đàn trong câu, tiết tấu, giai điệu… đều do người nghệ sĩ tùy hứng mà sáng tạo ngay khi đàn. Người nghệ sĩ theo cảm hứng, tâm tư tình cảm riêng, vận dụng tài năng mà thêm thắt, hoa lá, tô điểm vẽ vời nên giai điệu của riêng mình. Họ có thể là một nhạc công của dàn nhạc Cải lương, nhưng khi ngồi hòa đờn Tài tử với bạn bè, chữ đờn sẽ được chỉnh sửa sao cho chỉn chu, tiếng đờn có thể bay bướm nhưng không qua quýt; chạy chữ nhiều, thêm thắt, mắc mỏ nhưng mạch lạc, rõ ràng thể hiện phong cách riêng của thể loại âm nhạc, phong cách riêng của người nghệ sĩ diễn tấu.
Yêu cầu chủ yếu trong hòa đờn, ca Tài tử là người nghệ sĩ biết hòa điệu, biết nhường nhịn, nhưng cũng biết quăng bắt... Phong cách Tài tử theo nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo: “Phong cách Tài tử rất là quy tắc; đàn phải tròn vành rõ nghĩa, bản nào dây nấy, nhạc khí nào chánh, nhạc khí nào phụ.
Còn thính giả thì phần đông là trong giới, sành điệu, nghe đàn lẫn ca rất kỹ, theo dõi từng chữ đàn, từng câu nhạc...”.
Nếu có người hỏi một nghệ sĩ Đờn ca Tài tử: “Điểm cốt yếu nhất của nghệ thuật trình diễn nhạc Tài tử là gì?”, có lẽ họ sẽ nghe câu trả lời không ngần ngại: “Là phong cách sáng tạo, ngẫu hứng trong biểu diễn”. Không chỉ đàn ca sao cho đúng với tính chất, hơi điệu của bài, người nghệ sĩ Tài tử còn phải biết thêm thắt, biến báo ngẫu hứng sao cho bay bổng nữa! Đối với nhạc Tài tử, tính cố định sẽ làm mất tính tài tử. Một nốt đàn được thêm thắt, tô điểm đúng mức sẽ trở thành phong cách riêng của người nghệ sĩ, thể hiện tính chất riêng của hơi điệu hay bài bản đó. Nói rộng hơn, ngẫu hứng, ứng tấu, ứng tác vừa tạo phong cách nhạc sĩ, vừa là phong cách của thể loại nhạc Tài tử. Nhưng, nếu thêm thắt, tô điểm để cho câu nhạc có nhiều chữ đàn, để cho “rậm đám” hay “xôm tụ” thì không phải phong cách Tài tử. Bởi, mỗi câu nhạc, mỗi chữ đàn, mỗi nét nhấn nhá luyến láy Tài tử phải là tiếng lòng của người nghệ sĩ. Càng lão luyện, tinh xảo trong nghề chơi thì tiếng đàn phải càng tinh tế, sang trọng, đặc sắc, đậm đà...
Mỗi lần đàn ca là một lần tạo cho bài ca, bản đàn những “hương vị” khác nhau. Người đàn thêm chữ, chuyền ngón, thêm thắt, hoa lá; người ca biết luyến láy, sử dụng lối ca ngân dài hoặc ngắt chữ, đôi khi nói, đôi khi hát; hoặc có thể chuyển giai điệu lên xuống theo lời ca hay sáng tạo riêng… Người thưởng thức bàn đến lời ca ăn với giọng đờn hay thường chú trọng cách sắp chữ, sắp nhịp tinh tế hay bay bướm của tiếng đàn; lối chơi đằm thắm, mẫu mực hay mùi mẫn, cách đối đáp giữa các tay đàn hảo hiệp hay trả treo, mắc mỏ... Chính vì lý do này mà cuộc chơi Tài tử có thể kéo dài từ đầu hôm đến sáng (nhạc giới nói vui: nhạc “cổ điển” chơi đến “kiểng đổ !), chỉ quanh đi quẩn lại có một nhạc mục gồm 20 bài Tổ và một số bài phổ biến… người nghe lẫn người diễn không cảm thấy nhàm chán.
Chính yếu tố ngẫu hứng của người nghệ sĩ thông qua kỹ thuật diễn tấu điêu luyện và tài diễn tả của người nghệ sĩ mà thể loại âm nhạc này vừa mang tính tự do, tài tử, vừa mang tính chuyên nghiệp. Bởi người đàn phải có một trình độ kỹ thuật đầy đủ mới có thể vừa thể hiện được đúng phần bài cơ bản, vừa thêm thắt, ngẫu hứng. Người nhạc sĩ phải thể hiện những nét tươi mới trong giai điệu riêng của mình, vừa phải sắp xếp sao cho ăn khớp với điệu, hơi, với bản đàn, với bạn diễn và... cả với chính mình nữa!
Ngẫu hứng trong hòa đàn là không có giới hạn. Hãy nghe nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo kể về nhạc sĩ Sáu Tửng (Huỳnh Văn Sâm), tay đờn kìm và đàn sến nổi tiếng trong các thập niên 50-70 thế kỷ XX :
“Lối đàn kìm và sến của ông rất độc đáo. Tiếng đàn phát ra nghe rất anh hùng và tự tin. Chữ đàn sắp xếp sắc sảo, câu cú tròn vành rõ nghĩa, hơi nào ra hơi nấy, tiết tấu mắc mỏ, mùi mẫn, dễ gợi cảm hứng cho người cùng hòa đàn. Trong hòa tấu ông có lối đàn rất sôi động, ra - vô, quăng - bắt... rất mạch lạc, tạo hào hứng cho người cùng đàn. Có lúc đang đàn, ông đơn phương ngừng nghỉ, rồi một lát sau đó bất thần, ông hòa vào, làm người cùng đàn giật mình, có khi bị “rơi đài”. Mỗi khi có dịp hòa đàn với ông, tôi luôn bắt gặp nơi ông một số câu đàn mới, lạ và hay”...
Mỗi bản đàn Tài tử thường được hát với nhiều lời ca. Lời ca cùng với người đặt lời cũng được tưởng thưởng nếu “ăn giọng” với “chữ đờn”. Lời ca và bản đàn phải trùng khớp nhau về cấu trúc câu, loại nhịp khi đờn ca. Nhiều bài ca có tuổi hàng trăm năm mà vẫn được truyền tụng trong giới còn do ý nghĩa của lời ca, do lời lựa chữ - ăn đờn. Đặc biệt, bài ca còn đọng mãi trong lòng nhạc giới Tài tử còn do người ca đã làm bài bản trở nên bất hủ. Có những bài ca đã biến nhiều nghệ sĩ trở thành những tượng đài, như bài Vọng cổ nhịp mười sáu Chuyện tình anh bán chiếu của soạn giả Viễn Châu với tên tuổi Út Trà Ôn, hoặc những giọng ca từng thu đĩa nhựa của cô Hai Đá, cô Ba Bến Tre... làm nhiều người trong và ngoài nhạc giới đều vô cùng yêu chuộng.
Một đặc điểm thể hiện ngẫu hứng hòa tấu Tài tử là phần rao. Câu rao là phần mang tính ngẫu hứng nhiều hơn hết trong toàn bộ phần ứng tác ngẫu hứng của nghệ thuật Đờn ca Tài tử. Nội dung câu rao gần gũi với bản đàn sắp diễn tấu, với mục đích là để chỉnh lại dây đàn. Đồng thời, người nhạc sĩ cũng muốn dùng câu rao để gợi cảm hứng cho bạn diễn, tạo không khí cho dàn hòa tấu, chuẩn bị hình tượng âm nhạc cho người thưởng thức. Đối với người ca, phần nói lối trước bài ca cũng có tính chất giống như rao của dàn đờn vậy. Người ca có thể thêm thắt, lên xuống giọng, láy, luyến, chuyển câu sao cho ăn khớp với đàn, đôi khi còn có thể điều khiển dàn đờn theo cách nói lối riêng.
Bài bản có thể chơi theo trí nhớ với ít nhiều thêm thắt, thay đổi ở giai điệu, nhưng rao là một sáng tạo trực tiếp ngay khi trình tấu. Nghệ thuật của rao thể hiện ở khả năng ứng tấu, ứng tác rất ngẫu hứng mà vẫn phải giữ trong khuôn khổ của một số nguyên tắc về điệu và hơi; về mối liên quan của nó với bài bản sắp trình tấu; ở sự tinh tế của giai điệu câu rao, nét riêng có của nhạc sĩ và còn ở sự điêu luyện về kỹ thuật và nghệ thuật trình diễn.
Trong đờn ca Tài tử, câu rao tuy là ngẫu hứng nhưng đòi hỏi phải hòa hợp: ngoài sự hòa hợp với bài bản mà còn hòa hợp với bạn diễn. Nhạc sĩ phải biết ứng tấu dựa trên kỹ thuật diễn tấu và cần hiểu được bạn diễn để đưa câu nhạc của mình vào đúng lúc, đúng chỗ, đoán được ý bạn diễn để có thể giới thiệu câu nhạc của mình sao cho hay nhất, vừa tạo được nét chung của toàn dàn đờn khi thể hiện câu nhạc, nâng được âm điệu của câu rao chung, vừa thể hiện được phong cách riêng của mình. Nhạc sĩ phải biết khi nào dùng những chữ láy , chữ nhồi, khi nào cần chuyền chữ, chạy lướt, dùng chữ chỏi, lòn chữ (chuyển âm vực), thay đổi tiết nhịp… Rao thể hiện toàn bộ khả năng ứng tấu và cả cá tính của người nhạc sĩ Tài tử. Trong nhạc giới ngày nay, không ai không biết những câu rao của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo. Câu rao của ông không chỉ là lời mở đầu cho bài bản mà còn có đủ cung bậc của tình cảm: hỷ, nộ, ái, ố, bi, ai... Có thể chỉ với vài câu rao của ông, người ngoài nhạc giới Tài tử, người chưa từng biết về Đờn ca Tài tử Nam bộ cũng có thể hiểu được, cảm thông và thưởng thức trọn vẹn phong cách Đờn ca Tài tử, hiểu biết về “người Tài tử”...
Nếu so với phong cách thưởng thức của âm nhạc bác học châu Âu, nhạc Tài tử mang đặc điểm rất khác biệt. Trong nghệ thuật, người châu Âu thường chú trọng tác phẩm, tác giả, sau đó mới ghi nhận tính cách, khả năng của người biểu diễn tác phẩm. Thính giả của thể nhạc Tài tử chú trọng khen chê người đánh đàn, người trình diễn, đôi khi không quan tâm đến bản đàn là do ai sáng tác, bản đàn ban đầu được sáng tạo ra sao. Họ quan niệm: mỗi tác phẩm âm nhạc khi được trình tấu sẽ như một bức tranh, nếu phải vẽ một bức tranh mười lần giống như một thì… cần gì phải vẽ mười lần, mà hãy vẽ một lần rồi cho in ra mười bản! Nhạc giới Tài tử sành chơi và cũng rất sành nghe, họ hòa đàn cùng nhau và cùng nhau thông hiểu những câu, chữ mắc mỏ ấy, và có thể bình luận rất chuyên nghiệp. Cùng một nhạc mục với nhạc Lễ, với nhạc Cải lương... nhưng chỉ cần một chi tiết nhỏ khi diễn tấu, người nghe có thể phân biệt lối đàn của Tài tử hay nhạc Lễ, Cải lương... Một bình luận nhỏ thời trước về một nhạc sĩ đờn cò: “…Hồi xưa, ông Chín Quốc (Cò Quốc) là một nhạc công tài hoa, lúc ông đờn cây đờn cò nghe như nổi hột nhưng mà có lẫn lộn đôi chút hơi nhạc (nhạc tụng đình) chưa rặt Tài tử lắm…” cũng đủ cho thấy nghề chơi tinh tế biết bao.
Trong hòa đờn, hòa ca Tài tử, hòa hợp tiếng đàn của các nhạc khí là yêu cầu quan trọng. Với đặc điểm ngẫu hứng, tự nhiên nhưng các nghệ sĩ Tài tử vẫn biết cách giữ đặc điểm hòa sắc - hòa hợp trong khi chơi đàn. Dàn đờn Tài tử thường có đàn kìm (nguyệt), đàn tranh, đàn cò (nhị), đàn gáo, đàn độc huyền (bầu), ống tiêu… được chơi theo thẩm mỹ âm nhạc: hòa sắc không hòa thanh (ba, bốn bè ở các âm vực cao, trung, trầm) như âm nhạc phương Tây. Ngoài hình thức độc tấu, thường thấy trong hình thức hòa đờn, hòa ca là sự kết hợp hai hay nhiều nhạc cụ có âm sắc khác nhau. Xưa nay, Đờn ca Tài tử chuộng lối hòa đàn thông thường là hai, ba nhạc khí, hiếm khi hòa đàn năm nhạc khí. Kìm hòa với tranh - tiếng tơ với tiếng sắt, hoặc kìm hòa với cò - nhạc cụ dây gẩy với nhạc cụ dây kéo. Câu nói cửa miệng của nhạc giới là “sắt cầm hảo hiệp” để chỉ song tấu đàn cò (nhị) - đàn tranh, đàn kìm (nguyệt) - đàn tranh, “Tam chi liên hoàn pháp” để chỉ lối hòa tấu ba nhạc cụ: đàn kìm - đàn tranh - đàn cò, đàn kìm - đàn tranh - đàn độc huyền (đàn bầu), đàn tranh - đàn cò - đàn độc huyền... Hoặc, đơn giản hơn, nhạc giới có cách liệt kê và kết hợp pha trộn các nhạc cụ hòa tấu theo thứ tự: “kìm - cò - tranh - độc - tiêu” v.v… (hiếm khi thấy sử dụng sáo trong hòa đàn Tài tử).
Trong hòa tấu Tài tử xưa ít thấy xuất hiện những nhóm hòa đàn có hai hay ba nhạc cụ cùng âm sắc. Xu hướng đưa vào dàn hòa tấu thật nhiều nhạc cụ, thậm chí các nhạc cụ cùng âm sắc như kìm, guitare phím lõm, sến... của một số nhóm Đờn ca Tài tử ngày nay chỉ làm cho rầm rộ, xôm tụ chứ không thể hiện được đặc điểm hòa sắc các nhạc cụ của lối hòa tấu Tài tử. Nhiều nhạc cụ cùng âm sắc, khi chơi cùng nét giai điệu hoặc khả dĩ có thể ngẫu hứng, thêm thắt hoa lá sẽ bị lẫn vào nhau, không thể bày ra hết được những nét riêng của từng nghệ sĩ, những nét nhấn nhá sâu sắc trong từng cung bậc, vốn là đặc trưng của âm nhạc Tài tử. Ngày nay, do lẫn lộn giữa phong cách Tài tử và Cải lương nên dàn đờn Tài tử ít được chăm chút, người ta thấy đàn guitare phím lõm khá phổ biến trong các buổi hòa đờn Tài tử...
Người nghệ sĩ Tài tử luôn muốn tìm tòi, “thử” đưa vào một nét mới, nét lạ khi chơi đàn, và kể cả thử đưa vào một âm sắc mới, lạ bằng một nhạc khí mới. Điều đó giải thích vì sao nhiều tên tuổi vang danh trong giới với tiếng đàn sến, đàn đoản, đàn tam, đàn mandoline, đàn mando - guitare... và sau này kể cả đàn violon, guitare phím lõm! Nhưng, qua những thể nghiệm đó, lần lượt nhiều nhạc khí tham gia dàn đờn rồi rời khỏi bởi không phù hợp và do nhạc giới không ưa chuộng, không chấp nhận.
Cũng vì tính chất tài tử, ở đâu đó, trong dân gian, dàn đờn Tài tử có thể sử dụng tất cả những nhạc khí nào mà họ sẵn có. Đôi khi, chỉ với cây đàn cò, thậm chí, nếu chỉ có trên tay cây đàn violon - nhạc khí Tây phương, nhưng người nghệ sĩ Tài tử cũng sẽ có cách thể hiện tính chất riêng của loại hình nghệ thuật này. Họ đàn với những sự cẩn trọng, chính chuyên của người nghệ sĩ. Họ sẽ sắp chữ đàn sao cho đúng bài đúng bản, uốn chữ sao cho đúng giọng điệu, biết thêm thắt để thể hiện được tình cảm của mình trên một nhạc khí xa lạ với âm nhạc Tài tử.
Bàn về những “luật bất thành văn” trong nhạc giới Tài tử thì vô cùng. Những luật lệ về diễn tấu: “Bài nào dây nấy”, “chuyển hò”... những lời bình phẩm về phong cách: “đờn cho chính chuyên”, “biết đờn chữ lợ”, “hòa đờn phải biết đối đáp”, “quăng bắt”, “mắc mỏ”, “trả treo”... đủ cho thấy nghề chơi cũng lắm công phu!


TẠM KẾT

Như vậy, tuy không phải sinh ra như một nghệ thuật trình diễn trên sân khấu hay trong khán phòng để biểu diễn, nhạc Tài tử Nam bộ vẫn là thể nhạc chuyên nghiệp bởi những người chơi đàn, người thưởng thức phải là những người biết nhạc, có học đàn (dù là học để… chơi). Những cuộc trình diễn, thu đĩa nhạc Tài tử là chuyên nghiệp, nhưng những cuộc chơi giữa những người bạn, từ tư gia đến trước công chúng, từ thành thị đến thôn quê... chỉ là nghề chơi. Tất cả đã khiến thể loại âm nhạc này vừa chuyên nghiệp vừa có thể là thú chơi tao nhã của bất cứ ai. Những nhạc sĩ Đờn ca Tài tử vừa là nghệ sĩ biểu diễn, cũng vừa là người sáng tác, vừa có thể là nhà bình luận âm nhạc rất chuyên nghiệp bởi họ có sự am hiểu của những người trực tiếp chơi đàn, biết trọng nghề, quý người...
Như một tổng kết về đặc điểm của âm nhạc cổ truyền Việt Nam, GS-TSKH Tô Ngọc Thanh từng nêu: “Âm nhạc cổ truyền Việt Nam chuyên nghiệp về mặt trình độ nhưng được phổ biến lưu truyền theo phương thức dân gian” . Đặc điểm đó cũng được thể hiện trong nghệ thuật Đờn ca Tài tử. Đờn ca Tài tử là sự đan xen giữa tính chất bác học bởi những khắt khe về hệ thống bài bản, làn điệu; tính chuyên nghiệp bởi sự tinh xảo của kỹ thuật diễn tấu và cả sự tinh tế của phong cách biểu diễn cùng với những ngẫu hứng trong diễn tấu, sự thể nghiệm không ngừng ở nhiều phương diện, cách chơi tri âm - tri kỷ giữa những người bạn, không phải nghề kiếm sống... Đờn ca Tài tử còn là sự thể hiện tính chuyên nghiệp của thể loại đồng thời mang đặc điểm dân gian trong hình thức tổ chức, phương pháp sáng tạo, cách thức trình diễn, lưu truyền...
Đờn ca Tài tử, từ trong bản thân tên gọi, là một thể loại âm nhạc không chuyên, nhưng người am hiểu đều biết rằng với những quy ước chặt chẽ từ bài bản đến phong cách trình diễn... đã làm cho thể loại âm nhạc này hết sức nghệ thuật, hết sức chuyên nghiệp. Cho đến nay, dù những chương trình giải trí trên hệ thống truyền thông đại chúng, trò chơi điện tử (game), karaoke... đã chiếm lĩnh hầu hết mục giải trí của người dân, nhưng đâu đó từ làng quê, thành thị đến những đảo xa ở Nam bộ, những nghệ sĩ Tài tử vẫn ngồi với nhau để hòa đàn, hòa ca... Họ vẫn nắn nót tiếng đàn, uốn giọng từng ca từ để cùng nhau tri âm - tri kỷ...



 

Thêm một trao đổi