Quá trình hình thành và phát triển bộ môn nghệ thuật Đờn ca tài tử

14-02-2020, 19:26

Vào đầu thế kỷ thứ XIX ở Nam Bộ đã có hai hình thức nghệ thuật đó là Tuồng và Nhạc lễ. Tuồng là sân khấu diễn tích, âm nhạc lấy trống, kèn làm nòng cốt, Nhạc lễ là ban nhạc chơi nhạc phục vụ hành lễ tín ngưỡng, lấy nhạc cụ dây kéo và bộ gõ làm nòng cốt. Từ nhu cầu chơi nhạc, các nhạc công hoạt động trong hai hình thức nghệ thuật này, cùng với những người yêu nhạc dựa vào âm nhạc của hai hình thức nghệ thuật trên để sáng tạo ra phong trào “đờn cây” (tức hòa đờn không có bộ gõ) để thoả mãn nhu cầu chơi nhạc trong những lúc nông nhàn, trong những ngày rảnh rỗi. Phong trào đờn cây nhanh chóng lan tỏa khắp các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ.

Đến cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nhiều quan viên phụ trách các ban nhạc triều đình nhà Nguyễn vào Nam theo phong trào Cần vương. Họ là những người sớm biết kết hợp âm hưởng nhạc Nam Bộ với nhạc Huế để sáng tác ra những bản nhạc Tài tử và mở các lớp dạy đờn khắp khắp hai miền Đông, Tây Nam Bộ. Một số nhạc sư tiêu biểu thời bấy giờ là nhạc sư: Nguyễn Quang Đại (tức Ba Đợi) (1880) ở Long An, nhạc sư Trần Quang Diệm (1853 -1927) ở Mỹ Tho, là nội tổ của GS. Trần Văn Khê. Lê Bình An (1862-1924) là cha của nhạc sư Lê Tài Khị (Hậu Tổ Nhạc Khị) ở Bạc Liêu, Kinh lịch Trần Quang Quờn ở Vĩnh Long … Các Ông đã có nhiều năm nghiên cứu, chỉnh sửa các bản đờn cổ, sáng tác các bản mới, rồi “tập hợp thống nhất được những ban, nhóm đờn ca của hai vùng Đông-Tây Nam Bộ, dựng nên dòng nhạc Tài tử”. là những người có công sáng tác bài bản, truyền dạy đờn ca tài tử khắp Nam Bộ. Như vậy, từ phong trào đờn cây nhờ có các nhạc sư từ kinh đô Huế vào đã tạo ra sự biến đổi về chất để âm nhạc đờn cây trở thành hình thức âm nhạc cổ truyền mới: Đờn ca tài tử.

Để chơi đờn ca tài tử, người ta phải theo học các nhạc sư một thời gian rất dài, thường phải mất hai đến ba năm mới thông thạo các bản đờn, các kỹ thuật chơi đờn như: rung, nhấn rung, nhấn mổ, nhấn mượn hơi, mổ đơn, mổ kép, mổ kềm dây; các cách đổ hột, rung cung của đờn dây cung kéo; các cách chầy, hưởng, mổ bấm, bịt, day, chớp, búng, phi, rải của đờn tỳ bà. Nhờ vào các ngón kỹ thuật này, người chơi mới chơi được các điệu và hơi trong bài nhạc tài tử.
Đến nay, bài bản tài tử đã lên tới vài trăm bản. Trong vài trăm bản đó, giới nhà nghề nhạc tài tử đã gút lại được 20 bản nhạc tiêu biểu đại diện cho các làn hơi, Bắc, Hạ, Nam, Oán (Gồm hai thang âm: thang âm bắc và thang âm nam) và được gọi là 20 bản tổ, như sau: trong làn hơi Bắc (thang âm bắc)có các bài :Lưu Thủy, Phú lục, Bình Bán , Cổ bản, Xuân tình , Tây Thi. Trong làn hơi hạ (Thang âm Bắc) có các bài: Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long Đăng, Long Ngâm, Vạn giá, Tiểu khúc, trong làn hơi nam (thang âm nam) có các bài: Nam Xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung, trong làn hơi oán (thang âm nam) có các bài:Tứ đại oán, Phụng hoàng, Giang Nam, Phụng cầu.

Nghệ thuật Đờn ca tài tử
Khi chơi 20 bản tổ cũng như chơi những bản đờn tài tử khác, người chơi được phép ngẫu hứng sáng tạo, để sáng tác ngay khi trình diễn những nét giai điệu mới mẻ trên cơ sở nhịp, câu, lớp, điệu (giọng), hơi, đã được quy định bởi lòng bản.
Tất cả các nhạc sĩ chơi nhạc tài tử phải thuộc thấu đáo lòng bản của từng bản nhạc tài tử. Có vậy khi hòa đờn họ mới nhanh chóng thoát khỏi sự ràng buộc của lòng bản để ngẩu hứng trong “sáng tác” các câu đờn, chữ đờn mà vẫn bảo đảm sự toàn vẹn bản hòa tấu nhạc tài tử.

Dàn nhạc hòa tấu nhạc tài tử truyền thống thường có có nhạc cụ: đờn kìm, đờn tranh, đờn tỳ bà, đờn cò, đờn bầu, ống tiêu và song loan. Khoảng nửa cuối thế kỷ XX có thêm hai nhạc cụ phương Tây là guitare và violon tham gia vào dàn nhạc tài tử. Để hai nhạc cụ này tương thích với nhạc đàn tài tử người ta đã cải tiến bằng cách khoét phím đàn guitare lõm xuống, gọi là guitare phím lõm và thay đổi cách lên dây của cả hai cây đờn.
Trên cơ sở các bản nhạc tài tử, người ta viết lời ca để các ca sĩ hát. Lời ca ra đời đã nhanh chóng trở thành công cụ đắc lực phát huy giá trị nghệ thuật và chức năng giáo dục của Đờn ca Tài tử đối với công chúng - một công chúng dân ca vốn có truyền thống tiếp nhận nội dung âm nhạc thông qua lời hát.

Không bao lâu sau, các ca sĩ trình diễn nhạc tài tử có lời đã thay đổi lối ngồi ca (ca “salon”) bằng cách ca có diễn điệu bộ gọi là “Ca ra bộ”. Ban nhạc tài tử biểu diễn Ca ra bộ được biết đến sớm nhất là ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho của ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) với cô Ba Đắc, người ca sĩ diễn ba vai Bùi Kiệm, Bùi Ông và Kiều Nguyệt Nga trong bài ca Tứ đại oán tại hội chợ đấu xảo ở Paris vào năm 1910. Ca ra bộ ra đời là tiền đề cho việc hình thành sân khấu Cải lương Nam Bộ. Đến năm 1917, vở diễn Lục Vân Tiên của soạn giả Trương Duy Toản được trình diễn ở Sa đéc. Nhiều người coi đây là vở Cải lương đầu tiên. Vở Cải lương đã đánh dấu sự ra đời loại hình sân khấu truyền thống thứ ba của Việt Nam sau sân khấu Tuồng và sân khấu Chèo. Nhờ vào biểu mục nhạc tài tử phong phú, nhờ vào những giọng ca tài tử điêu luyện, sân khấu Cải lương đã nhanh chóng phát triển và trở thành sân khấu ăn khách nhất trong các loại hình nghệ thuật biểu diễn ở Nam Bộ suốt thế kỷ XX. Ngược lại, sân khấu Cải lương cũng là tác nhân tích cực làm cho nhạc tài tử lan tỏa tới mọi lớp người từ thành thị đến nông thôn Nam Bộ.

Nói đến sân khấu Cải lương, không thể không nhắc tới một bản nhạc có tính chất sự kiện, đó là bản Vọng cổ. Tiền thân bản Vọng cổ là bản Dạ cổ hoài lang do nhạc sĩ Sáu Lầu (Cao Văn Lầu) sang tác năm 1919 ở Bạc Liêu. Hơn một năm, từ sân chơi Đờn ca tài tử, bản Dạ cổ hoài lang bước lên sân khấu Cải lương. Kể từ đấy, nhờ vào những sáng tạo của nhiều danh ca, danh cầm, khắp Nam Bộ. Đặc biệt là người Bạc Liêu như các nghệ sỉ Lư Hòa Nghĩa, Nghệ sỉ Bảy cao, Nhạc sỉ Trần Tấn Hưng… bản Dạ cổ hoài lang đã dần lột xác từ nhịp đôi đến nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nghịp 32 nhịp 64. cho đến khi các danh ca , danh cầm xác định điểm thăng hoa của bài vọng cổ là đến nhịp 32. một điểm đến vừa đủ để bản vọng cổ tỏa sáng và phát huy hết công suất vừa đủ để các tác giả cổ nhạc gởi gấm lòng mình vào 6 câu vọng cổ.

Vọng cổ ra đời là một sự kiện âm nhạc lớn làm thay đổi diện mạo âm nhạc của sân khấu cải lương. Dần dà, bản Vọng cổ cũng được giới chơi nhạc tài tử yêu mến và trở thành bản nhạc không thể thiếu trong mỗi cuộc đờn ca tài tử. Đến đầu thập niên 70 của thế kỷ XX các tác giả lồng ghép bản vọng cổ vào tân nhạc và tạo nên mối lương duyên giửa Tân và cổ nhạc mà ta thường gọi là Tân cổ giao duyên nghỉa là: trong bản vọng cổ từ 6 câu nhịp 32, tác giả rút lại còn 4 câu 1-2 và 5-6 thêm vào đó 1 đoạn tân nhạc trước sau đó ca 2 câu vọng cổ 1-2 kế tiếp 1 đoạn nhạc và ca 5 -6. củng có bài tác giả đưa 1 đoạn nhạc vào hẳn 1 câu vọng cổ, thay gì mổi câu vọng cổ có 32 nhịp thì người ta giành 16 nhịp để ca nhạc và 16 nhịp ca trở về vọng cổ. Tân cổ giao duyên ra đời làm cho bản vọng cổ thêm mền mại tạo một luồng sinh khí mới trong bài vọng cỏ.

Trong giới đờn ca tài tử, những người chơi phải thuộc làu lòng bản các bản đàn. Khi chơi, họ được phép tự do sáng tạo ngẫu hứng thêm bớt các âm, biến hóa tiết tấu, thay đổi cường độ, tạo chỗ ngưng nghỉ để cho ra một bè đàn có tính cách rêng, kỹ thuật riêng của người nhạc sĩ chơi Đờn ca tài tử. Và cứ như vậy, nếu có 4 người hòa tấu 4 nhạc cụ khác nhau trên cùng một lòng bản họ sẽ cho ra 4 giai điệu có tánh cách khác nhau nhưng lại hợp thành “một tác phẩm hoàn hảo”. Lối hòa đàn của Đờn ca tài tử được các nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam gọi là lối “hòa tấu biến hóa lòng bản”. PGS-Nhạc sĩ Hoàng Đạm cho rằng “ “Biến hóa lòng bản” là một trong nhiều cách viết âm nhạc khác nhau, mà từ lâu danh từ âm nhạc thế giới đã gọi là hétérophonie (hétéro là dị dạng, biến hóa khác nhau; phonie là âm điệu, giai điệu)… Trung Quốc gọi cách viết này là “chi thanh” hoặc “phức điệu chi thanh”.

Trước khi vào bản đờn chính, người chơi đờn tài tử phải chơi câu rao. Câu rao là câu nhạc khởi đầu, rất ngẫu hứng của người chơi đờn. Câu Rao không có nhịp phách cố định, không có lòng bản như bản đờn, người chơi câu rao dựa trên cơ sở điệu và hơi của nhạc tài tử mà sáng tác. Câu rao “chẳng những tạo một bầu không khí phù hợp với bản đờn, vui tươi cho bản Bắc, nghiêm trang cho bản Nhạc, êm ả cho bản Xuân, buồn dịu cho bản Ai, mà còn là một dịp để nhạc công thử dây đờn như người chơi kỵ mã thử ngựa, và lúc đó người nhạc công có thể phô tài của mình hay tùy hứng sáng tác những khúc mới lạ”.

Trước kia những người chơi Đờn ca tài tử là những nhạc sĩ tài tử, họ không sống bằng nghề đàn hát. Họ chơi đờn một mình hoặc hòa đờn với nhau chỉ nhằm mục đích tiêu khiển khi nhàn rỗi. Khi chơi họ phải chọn những người bạn tri âm, tri kỷ, hiểu nhau từ cuộc sống đến nghệ thuật; hiểu nhau từ ngón đờn, chữ đờn đến tài năng nghệ thuật. Bởi với họ, lối chơi nhạc tài tử là đánh lên những âm thanh từ “tâm thức” để tạo ra một bản nhạc của “tâm thế”. Vì vậy chơi nhạc tài tử chính là chơi “tâm tấu”, chơi nhạc bằng cả lòng mình. Để có được điều đó, việc chọn bạn đờn và nơi để chơi đờn là điều vô cùng quan trọng.

Về sau, khi phong trào chơi Đờn ca tài tử lan rộng, quần chúng có nhu cầu thưởng thức, nhiều nhạc sĩ bậc thầy đã đứng ra thành lập các “ban nhạc tài tử” để đi trình diễn các nơi. “Ban nhạc tài tử” ra đời đã tạo ra lối chơi nhạc tài tử khác với lối chơi tiêu khiển trước đấy. Đó là lối biểu diễn nhạc tài tử trên bục diễn trước khán giả. Người ta còn biết “Vào năm 1915 Nguyễn Tống Triều và ban nhạc tài tử ở Mỹ Tho lên trình diễn ở nhà hàng Cửu Long Giang bên cạnh chợ Sài Gòn. Đây là lần đầu tiên nhạc tài tử lên sân khấu chuyên nghiệp ở Sài Gòn”.

Song song với việc thành lập các ban nhạc tài tử, sân khấu Cải lương ra đời đã sản sinh ra nhiều nhạc sư, nhiều danh cầm chơi nhạc tài tử lừng danh. Họ là những người hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp, họ luôn luôn phải khổ luyện, phải sáng tạo, phải làm mới ngón đờn, chữ đờn của mình trong từng đêm diễn. Sự khổ luyện, sự sáng tạo nghệ thuật ấy đã biến họ thành những người điêu luyện trong trình diễn và nhạy bén trong sáng tạo các ngón đờn, chữ đờn mới, bổ sung, làm phong phú nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ.


Minh Tuấn – Sở VHTTDL Bạc Liêu
Theo vhttdlkv3.gov.vn

Thêm một trao đổi