Đờn ca Tài tử Nam Bộ từ góc nhìn lịch sử

14-02-2020, 19:07

HUỲNH QUANG LÂM
Hội Khoa học lịch sử tỉnh Bạc Liêu

 


1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời của  bản Dạ cổ hoài lang và Đờn ca Tài tử
         

Căn cứ vào các nguồn tài liệu, bản Dạ cổ hoài lang ra đời vào thời kỳ vừa kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Theo lời kể của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu với bạn tri âm: "Tôi đặt bài hát này bởi tôi rất thương vợ. Năm viết bản Dạ cổ hoài lang, tôi đã ăn ở với vợ tôi được ba năm mà không có con. "Tam niên vô tử bất thành thê". Vợ chồng ăn ở với nhau trong ba năm, vợ không sinh con, chồng được quyền bỏ để cưới người khác hầu có con nối dõi tông đường. Thời phong kiến có những quan niệm chưa đúng. Người ta cho rằng vợ chồng không sinh con là do lỗi của người đàn bà. Tiếng ra, tiếng vào của gia đình buộc tôi phải thôi vợ, nhưng tôi không đành. Tôi âm thầm chống lại nghiêm lệnh của gia đình, không đem vợ trả về cho cha mẹ mà đem gởi đến một gia đình có tấm lòng nhân hậu. Xót thương cho vợ chồng tôi, gặp phải cảnh đau lòng mà cho ở đậu qua ngày, với hy vọng vợ chồng tôi sẽ có con và chiến thắng cái quan niệm khắc nghiệt, lạc hậu, chịu ảnh hưởng nặng đạo lý thời phong kiến”.

Trong thời gian dài, phu thê phải cam chịu cảnh “Đêm đông gối chiếc cô phòng", tâm tư nặng trĩu u buồn, nên nhạc sĩ Sáu Lầu đêm đêm mượn tiếng đàn nắn nót đôi câu cho bớt cơn phiền muộn. Ông thừa hiểu người bạn đời cũng đau xót như ông. Bản Dạ cổ hoài lang ra đời trong bối cảnh như thế.

Dạ cổ hoài - đứa con tinh thần  của nhạc sĩ Cao Văn Lầu khởi điểm là nhịp 2. Tới khi nó hòa nhập vào sân khấu Cải lương thì hai soạn giả tiên phong góp công đầu để biến bản nhạc này từ nhịp 2 trở thành nhịp 4 là Huỳnh Thủ Trung (tức Tư Chơi) và Mộng Vân (Trần Tấn Trung). Tiếng nhạn kêu sương là bản Vọng cổ hoài lang nhịp 4 đầu tiên do soạn giả Huỳnh Thủ Trung (1907-1964) sáng tác vào năm 1925.

Trên những chặng đường phát triển, khi Vọng cổ hoài lang được nâng lên nhịp 8 (từ khoảng năm 1934 đến 1944) thì nó có tên mới l�Vọng cổ, không còn đuôi Hoài lang. Từ khoảng 1944-1954, Vọng cổ tăng lên nhịp 16; thời kỳ kế tiếp: 1955 - 1964: tăng lên nhịp 32, rồi nhịp 64 từ năm 1965 đến nay.

Bản Dạ cổ hoài lang đã được các nhạc sĩ Nam Bộ sáng tạo, chế tác thành các bài nhạc Vọng cổ hát trên các loại nhịp khác nhau đã làm phong phú âm nhạc sân khấu Cải lương. Nó cũng được cư dân Nam Bộ sử dụng trong sinh hoạt ca hát mang tính tập thể, mang tính tự do phóng khoáng, mà hôm nay chúng ta gọi là Đờn ca Tài tử, nét đặc sắc của văn hóa Nam Bộ. Từ khi xuất hiện trong đời sống tinh thần, Đờn ca Tài tử Nam Bộ đã góp phần tích cực vào tiến trình phát triển của lịch sử Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung.


2. Đờn ca Tài tử Nam Bộ góp phần  đấu tranh cho nền độc lập
    và kháng chiến chống xâm lược
  (1919-1975)

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Việt Nam đang là thuộc địa nửa phong kiến, chịu tác động nặng nề bởi chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai, nhằm bù đắp những thiệt hại do chiến tranh thế giới gây ra cho nước Pháp. So với lần thứ nhất, hơn hẳn về quy mô và tốc độ, nên đời sống của người dân Việt Nam rơi vào cảnh bần cùng hơn. Nam Kỳ tuy là vùng đất trù phú, vựa lúa của cả nước, nhưng ruộng đất tập trung chủ yếu vào địa chủ, đời sống người dân luôn trong cảnh bấp bênh vì sự đói no. Xã hội bị phân hóa thành nhiều giai cấp. Cư dân Bạc Liêu đa phần sống trong nghèo khổ, sự giàu có như gia đình công tử Bạc Liêu chỉ mang tính cách biểu tượng mà thôi. Vì vậy, đời sống tinh thần của người dân Bạc Liêu thời ấy vẫn buồn nhiều hơn vui.         

Phong trào yêu nước chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương, do Nhà nước phong kiến phát động không có hiệu quả, chỉ tồn tại khoảng 10 năm (1885-1896). Phong trào nông dân Yên Thế tuy có mạnh hơn, nhưng cũng chỉ kéo dài được 30 năm (1884-1913). Người Việt Nam yêu nước, với truyền thống chống xâm lăng vẫn tiếp tục đấu tranh cho nền độc lập, tự do. Trong đấu tranh, tất yếu phải trải qua sự thử thách của gian truân, thậm chí phải chấp nhận hy sinh. Lời ca tiếng hát trở thành niềm vui, nguồn động viên cho người tham gia đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc.

Lễ nghi phong kiến vẫn còn trói buộc chặt chẽ, mặc dù đã có sự ly khai đi tìm tự do vào Đàng trong từ thế kỷ XVII. Nhưng người Việt đi tới đâu, lễ nghi theo tới đó. Nam Bộ lúc bấy giờ đất rộng dân thưa, nơi hội cư của những người tứ xứ ghét cường quyền, bất công, "trọng nghĩa khinh tài". Người dân nghèo, nhưng tấm lòng tình nghĩa không nghèo. Nhờ nhạc Vọng cổ mang tính bình dân, dễ sáng tác, "dễ chơi", nên cư dân Nam Bộ mượn tiếng nhạc lời ca, phản ánh tâm trạng buồn vui, tiếng thở dài của người dân nghèo trong chế độ thực dân, phong kiến. Nó là sự khẳng định lòng thủy chung của người dân Nam Bộ trong sự nghiệt ngã của cuộc sống. Tấm lòng thủy chung một vợ một chồng là bản sắc văn hóa Việt Nam, có từ thời dựng nước. Câu chuyện Trầu Cau cho thấy thuở ấy tuy chưa có luật pháp được ghi thành văn, nhưng định ước của Nhà nước Văn Lang chỉ chấp nhận một vợ một chồng, nếu ai vi phạm sẽ bị xử phạt nặng nề. Tự xử mình bằng tội chết của người em, cho dù đó là sự nhầm lẫn đã nói lên điều đó. Mối tình thủy chung của nhạc sĩ Cao Văn Lầu là sự thể hiện truyền thống văn hóa hôn nhân, một vợ một chồng được định hình từ thời dựng nước Văn Lang. Bản Dạ cổ hoài lang được lan tỏa trong sinh hoạt dân gian, là sự nhắc nhở, lời kêu gọi gìn giữ bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Phong trào Duy Tân tuy đang bùng lên, nhưng chưa đủ sức để giải thoát cho con người khỏi lễ nghi cổ hủ, để vươn tới tự do cùng dòng chảy văn minh thế giới. Các  nhà Duy Tân chưa chú trọng mang sự tiến bộ đến cho quần chúng, chỉ tập trung vào tầng lớp có học thức, quan quyền. Đờn ca Tài tử của giới bình dân, với nội dung chống địa chủ cường hào, đuổi xâm lược Pháp, động viên nhau trong đời sống, khích lệ nhau trong đấu tranh, là biểu hiện tính nhân dân, tính dân tộc một cách rõ nét. Bản Vọng cổ Tình anh bán chiếu của soạn giả Viễn Châu, do ca sĩ  Út Trà Ôn thể hiện, rồi được Đờn ca rộng rãi trong sinh hoạt dân gian, nói lên tình cảm thật thà, ý nhị. Khi có duyên nhưng không có nợ thì chấp nhận chia xa, không khổ lụy, thù hằn. Đó cũng là đặc trưng tình cảm của người dân Nam Bộ.

Lịch sử chứng minh âm  nhạc có vai trò đặc biệt trong đời sống con người. Âm nhạc góp phần tích cực trong cuộc đấu tranh chống thực dân, phong kiến, đế quốc. Cùng với tân nhạc, với các bài hát Ngày nào tiếng hát át tiếng bom, Hò kéo pháo,  Chiếc  gậy Trường Sơn... ca cổ góp phần tích cực vào cuộc cách mạng giải phóng miền Nam. Các bản Vọng cổ như Dệt chặng đường xuân phản ánh cô gái giao liên Nam Bộ tuy mới 14 tuổi nhưng ngày đêm chèo xuồng đưa đón cán bộ, dân quân không quản nhọc nhằn, hiểm nguy. Hay bản Vọng cổ  Cây sáo trúc, như câu chuyện kể về tình cảm của người thiếu nữ dành cho anh giải phóng quân thổi sáo ngọt lịm yêu thương. Bài ca có câu: "Anh hai ơi! Nghe tiếng sáo xa đưa làm lắt lay đồng nước gọi nắng mới theo chân anh mang mạch sống đưa về… Con chim hót theo con gà gáy tiếp tiếng sóng vọng đôi bờ… Đồng sen mỉm cười rừng đước khoan thai đã quét sạch dấu chân quân cướp nước. Chị hai em hỏi tên người thổi cây sáo trúc rồi mời anh đến thăm nhà mới cất trên hố bom. Ơi người thổi sáo trao duyên, ru từng thớ đất mẹ hiền hồi sinh". Bài ca có tác dụng cổ vũ động viên người chiến sĩ Giải phóng quân hăng hái tham gia chiến đấu trên chiến trường.

3. Thời hòa bình xây dựng đất nước (1975 đến nay)     

 Chiến tranh kết thúc, hòa bình được thiết lập, đất nước được thống nhất, nhu cầu thưởng thức văn hóa ca nhạc trở thành đa dạng, cạnh tranh nhau, chịu sự thử thách và sàng lọc của thời gian. Tuy xuất hiện nhiều loại hình âm nhạc trong và ngoài nước, hấp dẫn lôi cuốn giới trẻ, nhưng Đờn ca Tài tử vẫn tồn tại, được cư dân Nam Bộ ưa chuộng, sử dụng trong tiệc tùng, vui chơi giải trí. Sự độc đáo của bản nhạc Dạ cổ hoài lang - Vọng cổ là vẫn sống mãi với thời gian.

Trong khi ca nhạc hiện nay đang có nhiều vấn đề: từ mục đích trình diễn đến phong cách, ngữ điệu, thái độ ca sĩ đối với tác giả, thính giả..., nguy cơ  đẩy thế hệ trẻ bị trượt vào con đường sa ngã. Nhiều ca sĩ tân nhạc  khi biểu diễn, có lẽ do tâm lý sợ bị chê thua kém người khác, nên có những hành vi thái hóa, kệch cỡm, dị biệt về trang phục, âm ngữ  làm ảnh hưởng đến bản sắc văn hóa Việt Nam. Nhạc sĩ Nguyễn Ánh Chín từng khuyên một ca sĩ được xem là nổi tiếng rằng "Con đừng hát nhạc bố nữa". Trong khi đó, các nghệ sĩ ca cổ trên sân khấu vẫn đoan trang dịu dàng qua phong cách biểu diễn, trang phục, nội dung thể hiện làm xao xuyến người nghe.

4. Đặc trưng của Đờn ca Tài tử

Đờn ca Tài tử là hình thức hát với nhau rất giản dị, nhưng phong lưu, dù là người bình dân không thuộc tầng lớp thượng lưu. Cái độc đáo của Đờn ca Tài tử là tạo ra sự bình đẳng của con người trong cuộc sống. Ngồi lại hát chung với nhau để "mua vui cũng được một vài trống canh", không phân biệt sang hèn. Ngồi cùng chiếc chiếu hát cho nhau nghe, không còn chiếu trên chiếu dưới của sự phân biệt lễ nghi phong kiến, đó là sự tiến bộ bình đẳng và dân chủ.

4.1. Đờn ca Tài tử ăn gắn liền với uống, đờn kết hợp với ca

Đất Nam Bộ, trong đó có Bạc Liêu, rất giàu về nguồn lương thực, thực phẩm. Dưới sông rạch, trên đồng ruộng, ao đìa cá tôm nhiều  vô kể. Chỉ cần một mảnh lưới, cần câu, be bờ tát nước là đã có thức ăn. Nguồn cá tôm dư dả tới mức phải làm khô, làm mắm. Sau buổi lao động mệt nhọc, cúng giỗ ông bà, cha mẹ, hay tiệc tùng mừng thu hoạch mùa vụ, mừng nhà mới..., người dân Nam Bộ tụ hội bên nhau, với các loại nhạc cụ đờn kìm, đờn cò, song lang, đờn Vọng cổ, sẵn với thức ăn dễ tìm, rượu nếp, rượu thuốc được bày lên, thế là nam phụ lão ấu quây quần bên nhau ăn uống đờn ca. Có khi vì quá vui người ta quên hẳn thời gian kéo dài, ai cũng muốn được góp vui bằng tiếng hát của mình, với tinh thần hát hay không bằng hay hát.

Được tham gia và chứng kiến sinh hoạt Đờn ca Tài  tử, chúng ta thấy người Nam Bộ thể hiện nghĩa tình đầm ấm yêu thương nhau trong cuộc sống. Vì vậy, dù phải đi xa vì hoàn cảnh sinh sống, Đờn ca Tài tử làm cho người Nam Bộ luôn nhớ về quê hương xứ sở, mong được trở về hội ngộ viếng thăm  cùng hát với  nhau.

4.2. Đờn ca Tài tử  khai sinh lực lượng nghệ sĩ nổi tiếng, góp phần
                 làm phong phú nghệ thuật sân khấu Cải lương, tạo gam màu,
                 đa dạng văn hóa Việt Nam

Những soạn giả  nổi tiếng như:

- Viễn Châu, quê ở Trà Vinh. Với hơn 50 năm sáng tác, ông đã để lại một kho tàng tác phẩm đồ sộ: trên 50 vở Cải lương đã được trình diễn trên các sân khấu ca cổ; trên 2.000 bản Vọng cổ đã được các hãng đĩa, băng thu thanh và phát hành. Toàn bộ tác phẩm đều đã được đăng ký bản quyền.

- Yên Lang (tên thật là Nguyễn Ngọc Thanh), một soạn giả tài danh, quê ở Bạc Liêu. Ông đã sáng tác hơn 30 kịch bản Cải lương nổi tiếng, ngòi bút của ông đã giát vàng cho không ít tên tuổi nghệ sĩ qua các vai diễn trong những vở tuồng của ông1.

Không chỉ có vậy, đất Bạc Liêu còn là nơi sinh ra nhiều đoàn Cải lương nổi tiếng được công chúng yêu thích như: Kim Chung, Sài Sòn, Hương Tràm, Trần Hữu Trang, Cao Văn Lầu... được thành lập, phục vụ đời sống tinh thần, góp phần gìn giữ văn hóa Việt Nam qua nhiều chặng đường cam go trong lịch sử. Nhiều ca sĩ nổi tiếng, nối tiếp nhau qua nhiều thế hệ, xuất hiện trên sân khấu ca nhạc Cải lương như: Út Trà Ôn, Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Minh Phụng, Minh Vương, Kim Tử Long, Phượng Hằng... lời ca tiếng hát của họ để lại ấn tượng khó phai mờ trong lòng khán giả, cho dù trong số ấy có người đã nghìn thu yên giấc.

4.3. Đờn ca Tài tử sánh vai cùng các thể loại ca nhạc

Có người cho rằng, Đờn ca Tài tử là sinh hoạt của người dân quê Nam Bộ. Thật ra, tại các đô thị như Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, Cần Thơ, Đồng Tháp, Long Xuyên, Trà Vinh..., Đờn ca Tài tử vẫn xuất hiện song song với các loại hình ca nhạc khác. Ngay tại thành phố Hồ Chí Minh, "Vầng trăng cổ nhạc" được tổ chức tại khách sạn REX 5 sao, thuộc hàng sang trọng nhất của thành phố, thu hút nhiều người đến xem và hâm mộ.

5. Đờn ca Tài tử dễ bị lạm dụng trong sinh hoạt tinh thần

Trong thời gian gần đây, vấn nạn rượu chè đang bùng phát trong phạm vi cả nước, và diễn ra ở tất cả các thành phần. Thành đạt thì Đờn ca nhậu ăn mừng, thất bại thì Đờn ca nhậu chia sẻ. Đờn ca hay đi liền với bia rượu, dễ bị mất kiểm soát khi quá chén, say xỉn. Đam mê Đờn ca nhậu nhẹt dễ bỏ bê công việc, gia đình con cái. Vì mang tính bình dân, tính quần chúng, Đờn ca Tài tử dễ lan tỏa rộng rãi và cũng dễ bị lợi dụng để thỏa thích tiệc tùng say sưa. Tại các tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long, từ sớm tinh mơ đến chập choạng tối lúc nào cũng thấy các “sòng” nhậu được “gầy” từ đầu bờ đê đến cuối vườn nhà. Không riêng gì các lão nông, mà thành phần nhậu bây giờ còn có sự tham gia nhiệt tình của phụ nữ và thanh niên trai trẻ. Điệp khúc “sáng đá gà, chiều đi nhậu” dường như ngấm sâu vào ý thức của một bộ phận người dân, tạo nên tâm lý sống phóng túng của người miền Tây. Lối sống đó vô tình “bào mòn” ý chí vươn lên, ngấm ngầm đẩy nhiều người vào vũng lầy túng quẫn. Khi ấy, Đờn ca Tài tử dễ bị lợi dụng để phục vụ cho những người ham thích ăn nhậu bê tha, được biện minh bằng khái niệm "văn hóa ăn nhậu".

Ông Võ Hoàng Hiệp, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Cà Mau cho biết: tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới nghèo của bà con, chúng tôi thấy: ngoài trình độ thấp, đông con, không có tư liệu sản xuất thì còn có rất nhiều người lười lao động, khoái ăn nhậu và ỷ lại vào Nhà nước. Đây là mặt trái của Đờn ca Tài tử, cần  được nhận diện để khắc phục.

6.  Nhận xét chung

Chúng ta tự hào vì Đờn ca Tài tử được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đó là sự đóng góp của văn hóa Việt Nam vào bảng giá trị và tính đa dạng của nền văn hóa thế giới. Chúng ta tin tưởng rằng, khi người dân Nam Bộ đến với Đờn ca Tài tử, bằng nhận thức văn hóa, soi sáng bởi tri thức và tấm lòng với tiền nhân, có sự tuyên truyền nhắc nhở của các cơ quan chuyên môn và thẩm quyền, có sự nhắc nhở của các bậc phụ huynh, sự giáo dục của nhà trường về tính giá trị của Đờn ca Tài tử, chắc chắn nó sẽ góp phần nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Đó cũng là thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, góp phần nhanh chóng làm cho dân giàu nước mạnh, sánh vai cùng cường quốc năm châu như mong ước của Chủ tịch  Hồ Chí Minh.

 

Thêm một trao đổi