Từ hô đến hát bước phát triển vượt trội của nghệ thuật bài chòi dân gian

16-04-2019, 14:54

Thuở xưa chơi bài lá là một trong rất nhiều trò chơi, trò diễn dân gian được tổ chức trong các không gian lễ hội đầu xuân. Lối chơi ấy được người đời gọi bằng nhiều tên khác nhau, như: Chơi Bài điếm, chơi Tổ tôm điếm (ở Đồng bằng, Trung du Bắc bộ và Bắc Trung bộ), chơi Bài chòi ở Trung Trung bộ và Nam Trung bộ. Trò chơi bài lá ở các vùng miền cùng có một mô hình tổ chức tương đối giống nhau.

Trước hết người ta phải cất các điếm hoặc các chòi để người chơi ngồi trong đó chơi trong suốt quá trình chơi bài. Tùy vùng miền, tùy địa phương mà số điếm hoặc số chòi có thể làm nhiều hay ít. Thông thường số điếm, số chòi phải là số lẻ bố trí theo hình chữ U, giữa là chòi chủ (nhà cái), hai bên là chòi khách (người chơi). Thứ đến là phải có người đứng ra rút quân bài nọc, rồi thông báo với người chơi tên quân bài nọc đó. Tùy vào các vùng miền khác nhau mà người này có tên là Quân xướng, Trung quân, anh Hề hoặc anh Hiệu (từ đây xin gọi chung là anh Hiệu).

Anh Hiệu là nhân vật trung tâm của cuộc chơi. Anh ta là người nghệ sỹ tạo ra không khí vui vẻ, trào lộng bằng những câu hát có nhiều nội dung khác nhau. Những câu hát đó nhằm mục đích để người chơi đoán con bài trong tay anh ta vừa rút từ ống bài nọc ra là con bài gì, rồi so sánh với con bài của mình mua xem có trúng hay không. Thường thì người nào có tài ứng khẩu, thuộc nhiều truyện thơ, ca dao, lại có giọng hát, có điệu bộ múa may khéo léo sẽ được dân làng chọn làm anh Hiệu.

Ở Đồng bằng, Trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ cỗ bài thường chơi gọi là bộ bài Tổ tôm. Bộ bài Tổ tôm có 120 quân, sắp làm 3 hàng chính là hàng Vạn, hàng Văn và hàng Sách, mỗi hàng có 9 con bài. Ngoài ba hàng chính còn có hàng quân đặc biệt gọi là Thang Thang, Lão và Chi Chi. Ở Trung bộ và Nam Trung Bộ, cũng dùng bộ bài tương tự như bài Tổ tôm. Cũng có ba hàng chính là hàng Vạn, hàng Văn, hàng Sách, cũng có, Lão, Thang, Chi Chi nhưng tên gọi các quân trong mỗi hàng có thay đổi. Thí dụ tên gọi các con bài trong hàng Vạn ở Đồng bằng, Trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ gọi là Nhất vạn cho tới Cửu vạn thì ở Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ lại gọi theo tượng hình như Nhất gối, Nhị bánh…Tám miếu, Chín cu. Dựa vào tên gọi hoặc hình ảnh, hoặc hình họa của quân bài anh Hiệu sẽ ngẫu hứng thành các câu thơ vừa có ý nghĩa nhân văn sâu sắc vừa thách đố người chơi nhận ra con bài. Ví dụ quân bài thuộc hàng Vạn anh hiệu ở các vùng sáng tác ra rất nhiều những câu ca khác nhau:

Tổ tôm điếm có câu:

- Tuổi xuân chẳng được mấy ngày
Nhị đào bẻ quách trao tay nhân tình
(quân Nhị vạn)

-Vác hòm Cửu vạn mọi đường
Thời buổi kinh tế thị trường khó khăn
(quân Cửu vạn)

Cũng quân bài này Đánh Bài chòi có câu:

- Còn duyên làm cách làm kiêu
Hết duyên bí thối , bầu thi ai thèm
(quân Nhì bí tức Nhị Vạn).

- Chầu rày đã có trăng non
Để anh lên xuống có con em bồng
(quân Bát Bồng tức Bát Vạn)

Nằm trong cái mô hình chung ấy, Bài chòi Nam Trung Bộ có gì đặc biệt?

Nếu xét về ý nghĩa và cấu trúc văn thơ thì khó có thể tìm ra sự khác biệt, sự độc đáo của mỗi vùng. Hầu hết các câu hát của anh Hiệu đều sử dụng thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Nội dung các câu hát thường được ngẫu hứng từ vốn ca dao, hò, vè hoặc truyện thơ. Nếu có gì đó độc đáo thì đó là thổ ngữ và các phong tục sinh hoạt, đời sống thường ngày của người dân ở các địa phương được các anh Hiệu phản ánh rất sâu sắc trong các câu hô, câu xướng khi chơi bài.

Nếu xét về ba ngôi Vạn, Văn, Sách, ba ngôi chủ chốt trong chơi Bài chòi và Tổ tôm điếm ta cũng khó có thể tìm thấy sự khác biệt, dù tên gọi các quân bài trong bộ bài có thay đổi, nhưng nó vẫn là một cỗ bài.

Nếu xét về mặt hình họa vẽ trên các con bài chúng ta dễ dàng nhận thấy chúng có nhiều khác biệt. Các con bài Tổ tôm điếm vẽ hình người, hình con vật như thật, còn các con bài của Bài chòi lại vẽ hình hoa văn, họa tiết trang trí mang tính ước lệ, tượng hình (cũng có người nâng mỹ thuật của các con bài trong Bài chòi lên tầm mỹ thuật siêu thực (?)). Nhưng suy đến cùng thì những hình họa có phong cách riêng biệt ấy cũng không thể tạo ra được cái “năng lượng” nghệ thuật đủ sức lôi cuốn, không tạo ra được sự thèm chơi cho người chơi, người xem. Vậy cái độc đáo nghệ thuật của lối chơi Bài chòi Nam Trung bộ nằm ở đâu?

Theo chúng tôi, cái “năng lượng” nghệ thuật trong một hội chơi Bài chòi chính là Nghệ thuật ứng tác các câu Hô Bài Thai. Việc ứng tác các câu Hô Bài Thai xảy ra cùng lúc cả thơ và nhạc. Thơ là thơ lục bát hoặc lục bát biến thể, nhạc là những trật tự âm thanh có sẵn, âm hưởng có sẵn rồi anh Hiệu vận thơ vào nhạc. Anh Hiệu được hâm mộ là anh Hiệu ngẫu hứng ra những câu thơ phản ánh sâu sắc luân thường đạo lí ở đời. Và đương nhiên nó phải được chuyển tải tới tai người nghe bằng một giọng hát hay, truyền cảm.

Do vậy, âm nhạc Bài chòi, là phương tiện biểu đạt quan trọng nhất gây ra không khí văn hóa nghệ thuật độc nhất cho cuộc chơi. Ở Đồng bằng, Trung du Bắc bộ và Bắc Trung Bộ anh Hiệu thường sử dụng lối xướng thơ để trình diễn tên con bài. Xướng thơ có rất nhiều giai điệu xướng khác nhau, các giai điệu ấy lại có những trật tự âm thanh riêng, âm hưởng nhạc riêng, không giống nhau.

Vì dụ câu:
Nảy lên thích quá còn gì
Kênh đùi ấy chính chi chi anh chàng (quân Chi chi)

Câu thơ này được các anh hiệu ở Đồng bằng, Trung du Bắc bộ và Bắc Trung bộ xướng theo nhiều âm hưởng khác nhau, như âm hưởng Chèo, Sa Mạc, Trống Quân, Ví Dăm, Vè v.v… Về mặt âm nhạc học thì Xướng là câu nhạc không có nhịp điệu cố định tính theo chu kì thời gian (tức câu nhạc tự do). Xướng xuất hiện trong rất nhiều thể loại nghệ thuật trình diễn khác nhau của người Việt. Mỗi địa phương, mỗi anh Hiệu lại có giai điệu xướng khác nhau. Còn ở Nam Trung Bộ các anh Hiệu có chung một điệu hát gọi là Hô. Hô đối lập với Xướng, Hô có nhịp phách cố định, có tiết tấu rành mạch.

Từ nguyên của Hô là hô hoán hoặc hô hào (kêu gọi). Nhưng Hô trong nghệ thuật Bài chòi lại là một đoạn nhạc có cấu trúc hoàn chỉnh. Ví dụ để hát câu: Một hai bậu nói rằng không / Dấu chân ai đứng bờ sông hai người. Khởi đầu anh hiệu bắt vào bằng nốt nhạc ở âm vực cao bằng hư tự Uơ. Hư tự Uơ là một nốt nhạc kéo dài không tiết tấu. Huơ nhằm mục đích tập trung sự chú ý của mọi người, từ người chơi tới người tham dự tập trung vào con bài trong tay anh Hiệu. Thuở xưa dân làng không có các phương tiện phóng thanh có tần số “khủng bố” như bây giờ, để át đi tiếng ồn ào của đám đông thì tiếng Hô ấy rất có giá trị thông tin.

Xét về cấu trúc âm nhạc thì Hô là âm khởi đầu, âm dẫn trước khi anh Hiệu kể tên con bài bằng một câu nhạc/thơ nhiều í nghĩa, nhưng rất bóng gió về tên con bài. Về sau bằng vào cái ý bóng gió đó mà người đời đặt tên cho câu Hô này là câu Hô Bài Thai. Ví dụ:

Chầu rày đã có trăng non
Để anh lên xuống có con em bồng. (Bát Bồng)

Câu Hô Bài Thai là một đoạn nhạc có giai điệu đẹp, tiết tấu khúc triết, tuyến điệu mở, cấu thành bởi các âm luyến láy dựa trên các bậc âm chính của thang 5 âm, điệu Nam. Điệu Nam là điệu thức mềm mại, duyên dáng, nhẹ nhàng tương phản với điệu Bắc vui vẻ, rộn ràng. Cái chuẩn mực nghệ thuật ở đây đã đạt đến sự hài hòa trong tương phản. Tương phản của tiếng Hô (ví như hồi trống đổ) với giai điệu hát kể duyên dáng, hóm hỉnh như lời tự sự. Gai điệu duyên dáng đó lại được điểm đều đặn 3 tiếng song loan vào phách 3, phách 4 và phách 1 của nhịp 4 phách. Dứt câu hát kể anh Hiệu hát nối sang tiếng hô cuối “Bớ con Bát Bồng!”. Tiếng hô cuối tạo ra cảm giác kết trọn một đoạn nhạc của câu Hô Bài Thai.

Câu Hô Bài Thai trong hội chơi Bài chòi Nam Trung bộ đã trở thành hình thức nghệ thuật hấp dẫn, đã được các chủ thể văn hóa Bài chòi yêu mến và hâm mộ. Hô Bài Thai chỉ dành để Hô trong cuộc chơi Bài chòi không lan sang các hình thức nghệ thuật dân gian khác. Tuy nhiên câu Hô Bài Thai vẫn không dừng ở đây.

Như một luật, Phát triển nghệ thuật để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật là đòi hỏi tất yêu của con người. Sự phát triển nghệ thuật Hô Bài Thai cũng nằm trong quy luật phát triển tất yếu đó. Các anh Hiệu không thể chỉ “cò cưa” câu Hô Bài Thai vẻn vẹn trong một câu thơ lục bát hết mùa hội Bài chòi này sang mùa hội Bài chòi khác. Họ muốn kéo dài sự hồi hộp của người chơi và cũng cho người xem được thưởng thức tài nghệ ứng tác các câu thơ và giọng ca hấp dẫn của mình. Các anh Hiệu đã biết dựa vào cấu trúc mở của âm nhạc trong mỗi câu Hô Bài Thai rồi nối dài câu Hô Bài Thai từ một câu thơ lục bát thành rất nhiều câu thơ lục bát. Sự chắp nối nhiều câu thơ lục bát đã tạo thành một bài ca hoàn chỉnh phản ánh được nhiều mặt của đời sống xã hội và con người. Thí dụ câu Hô bài Thai:

Uớ…
Rượu say mất hết tính người
Cờ bạc, hút hít, vương rồi khó gỡ ra
Sạch túi rồi đến sạch nhà
Bí đường, tắt lối phải ra làm liều
Uớ! Nhì bí uớ Nhì bí!

Một câu khác:

Uớ…
Lấy chồng từ thuở mười ba
Chồng chê em bé không nằm với em
Đến khi mười tám, đôi mươi
Em nằm dưới đất chồng lôi lên giường
Lên giường anh nói anh thương
Một anh thương, hai anh thương, ba anh thương...
Anh thương chi hung rứa
Cho bốn cái cẳng giường nó rung rinh
Uớ! Tứ cẳng huớ Tứ cẳng!

Lối Hô Bài Thai nhiều câu ra đời đã được những người chơi bài đón nhận và cũng được người tham gia hội chơi (khán giả của cuộc chơi) hướng ứng. Đó là tiền đề làm nảy sinh lối Hát không Hô – Hát Bài chòi kể truyện.

Thuở xưa, tục chơi Bài chòi chỉ diễn ra vẻn vẹn đôi ba ngày đầu xuân rồi khép lại. Còn nhu cầu được nghe các anh hiệu ca, được xem các anh hiệu biểu diễn của người dân lại không dừng. Do vậy nhiều người, nhiều nhóm người đã tự tổ chức không gian diễn riêng để mời các anh Hiệu về tư gia của mình trình diễn Bài chòi cho dân làng cùng thưởng thức. Cách làm này dần dà đã tạo cho Bài chòi một không gian trình diễn mới - không gian “sân khấu sân vườn”. Từ không gian sân khấu này, dần dà các anh Hiệu đã tổ chức được các nhóm nghệ sỹ dân gian vừa biểu diễn, vừa truyền bá Bài chòi trong đời sống cộng đồng. Nhũng nhóm trình diễn Bài chòi như thế này phát triển mạnh ở Bình Định, rồi lan truyền xuống Phú Yên, Khánh Hòa, ngược ra Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Để trình diễn nghệ thuật trong “sân khấu sân vườn”, các anh Hiệu đã phải cắt bỏ từ Uơ quen thuộc mở đầu cho mỗi câu Hô Bài Thai. Thay vào đó họ dùng lời thoại hoặc câu nói lối rồi bắt vào hát. Cách làm này đã tạo cho âm nhạc Bài chòi một cấu trúc khác với cấu trúc của câu Hô Bài Thai để trở thành cấu trúc Hát Bài chòi kể truyện. Hát Bài chòi kể chuyện là sự chuyển hóa vượt trội về nghệ thuật âm nhạc giúp cho Bài chòi nhiều sức hấp dẫn và có sức sống lâu bền.

Năm 1979, tôi có vào mở lớp SKPVAT ở các tỉnh Nam Trung Bộ, khi đó tôi còn được nghe, được tiếp xúc với hai nghệ nhân Bài Chòi dân gian ở Quảng Nam và Quảng Ngãi. Chuyện trò với các nghệ nhân, tôi mới biết họ đều sinh ra, lớn lên và học nghề Bài chòi của các thầy ở Bình Định, rồi đi hát khắp nơi. Họ cho tôi biết: Khi đi hát, họ không gọi là Hô Bài chòi, mà chỉ gọi là Hát Bài chòi. Bởi Hô chỉ dành cho Hô bài thai khi chơi bài trên chòi. Còn đi hát, là hát kể truyện cho bà con nghe thì không còn Hô, chỉ có Hát. Hát có nhiều điệu như điệu Bài chòi cổ, điệu Bài chòi Xuân Nữ, điệu Bài chòi Cổ Bản, điệu Bài chòi Xàng xê, điệu Xàng Xê lại có điệu Xàng Xê Dựng, điệu Xàng Xê Lụy v.v.. còn Hô Bài Thai chỉ có một điệu. Câu giải thích thật đơn giản nhưng thật mạch lạc. Nó đã làm rõ sự bắt buộc phải chuyển đổi lối biểu diễn âm nhạc Bài chòi theo cách khác, nhằm đạt tới mục đích khác - mục đích thể hiện đầy đủ nhất các cung bậc tình cảm, tính cách cách nhân vật trong bài ca kể truyện của người nghệ sỹ dân gian.

Trong khi hát các bài ca kể truyện, người nghệ sỹ Bài chòi dân gian không chỉ đứng hoặc ngồi hát như các gánh Hát Xẩm ở đồng bằng và trung du Băc Bộ xưa kia, mà họ còn phải vào vai các nhân vật trong câu chuyện kể của mình. Đây là một sáng tạo lớn của các nghệ sỹ Bài chòi dân gian. Bởi họ đã biến họ thành các nghệ sỹ độc diễn tài ba. Nếu ai đã từng xem họ trình diễn các bài ca kể chuyện như: Lâm Sanh – Xuân Nương, Ông Xã bà Đội, Thoại Khanh – Châu Tuấn, Quan Công phục Huê Dung, Vè Chàng Lía v.v…chắc chắn đã từng khâm phục tài năng độc diễn của các nghệ sỹ Bài chòi dân gian này.

Một quá trình biểu diễn, là quá trình trải nghiệm, cũng là quá trình các nghệ sỹ độc diễn Bài chòi dân gian đã khôn khéo vay mượn, rồi Bài chòi hóa nhiều hình thức âm nhạc cổ truyền Nam Trung Bộ như âm nhạc Tuồng, âm nhạc dân gian và ngay cả tiếng rao hàng của những người Minh Hương đi bán dạo khắp làng quê để bổ sung, làm phong phú nội dung nhạc mục trong các bài ca kể truyện của mình. Quá trình ấy họ đã sáng tạo thêm điệu Bắc và nhiều cách hát từ hai điệu nhạc Nam (có sẵn trong Hô Bài Thai) Bắc (mới tạo ra ở Bài chòi kể truyện) để làm ra các âm hưởng vui, buồn, giân hờn, ai oán phù hợp với từng tình huống nhân vật trong câu truyên kể.

Đến đây chúng ta có thể nhận biết, những người nghệ sỹ hát Bài chòi dân gian đã đặt nền móng để Bài chòi dân gian vượt lên cả về lượng và chất để biến lối Hô Bài Thai đơn giản thành lối Hát Bài chòi kể truyện giàu tính nghệ thuật. Đây là thành tựu nghệ thuật mà ở các vùng chơi Bài chòi và Tổ Tôm điếm ở Đồng Bằng, Trung Du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và cả Trung Trung Bộ đều không tạo ra được.

Sự sáng tạo ra hình thức Hát Bài chòi kể truyện của các nghệ sỹ dân gian đã góp vào kho tàng di sản nghệ thuật cổ truyền Việt Nam một sản phẩm Văn hóa nghệ thuật đặc sắc của nhân dân Nam Trung Bộ.

Vào những năm 50 của thế kỉ XX, thế hệ các nghệ sỹ Bài chòi của thời đại Hồ Chí Minh đã biết tiếp thu nghệ thuật Bài chòi dân gian rồi từng bước chuyển hóa nó thành sân khấu bục diễn hiện đại.

“Trước giờ tạm biệt” có thể coi là vở diễn hiện đại đầu tiên có nhiều diễn viên trên sân khấu biểu diễn trên một kịch bản. Đây là lối biểu diễn có nhiều khác biệt so với lối biểu diễn Bài chòi của các nghệ sỹ Bài chòi dân gian. Vở diễn “Trước giờ tạm biệt” bước đầu khẳng định khả năng thích ứng của lối Hát bài chòi độc diễn sang lối Hát Bài chòi có đối đáp nhiều nhân vật, có kết hợp cảnh trí (tuy đơn sơ) và đặc biệt nó thể hiện khả năng thích ứng của Âm nhạc Bài chòi với câu chuyện kịch có nhân vật là những con người hiện đại, đời sống hiện đại. Dựa vào thành quả đầu tiên này, suốt 60 năm qua, biết bao thế hệ nghệ sỹ, nhạc sỹ, tác giả đã đóng góp xương máu, đóng góp công sức, đóng góp sáng tạo để xây dựng hoàn chỉnh nghành sân khấu Ca kịch Bài chòi hiện đại.

Một quá trình lịch sử, khi vinh quang, lúc chịu nhiều sóng gió cuộc đời: nào đói khát, nào nghèo khổ, nào giải thể, nào sát nhập, cái sự khủng khiếp ấy chưa thấy có cuộc họp khoa học nào ở cấp quốc gia để tìm ra nguyên nhân, tìm ra cách thúc đẩy, phát triển nghành sân khấu đã ở độ tuổi “Lục thập nhĩ thuận” vẫn bị coi là non trẻ này. Ấy vậy mà các nghệ sỹ vẫn kiên cường bám trụ, kiên cường sáng tạo để gìn giữ sản phẩm sân khấu được sáng tạo ở thời đại Hồ Chí Minh cho con cháu hôm nay và mai sau.

Tóm lại, suốt chặng đường dài hình thành và phát triển, Bài chòi Nam Trung Bộ đã sinh ra ba hình thức Bài chòi khác nhau trên cùng một gốc. Gốc đó có căn nguyên từ Hội đánh Bài chòi đầu xuân.

- Hình thức thứ nhất: Hô Bài Thai của các anh Hiệu
- Hinh thức thứ hai: Hát Bài chòi kể truyện của các nghệ sỹ dân gian
- Hình thức thứ ba: Sân khấu ca kịch Bài chòi

Gần đây nhiều tỉnh thành ở Nam Trung Bộ đã phục hồi tục đánh Bài chòi đầu xuân. Đây là một một việc làm tốt để bảo tồn nghệ thuật Hô Bài Thai của các anh Hiệu – cái gốc của âm nhạc Bài chòi và cũng đồng thời bảo tồn được Hội chơi Bài chòi đầu xuân. Song rất tiếc, chúng ta chưa chú trọng tới công tác khôi phục và phát huy Nghệ thuật Độc diễn bài chòi dân gian trong đời sống cộng đồng.

Theo hiểu biết của chúng tôi, nghệ thuật Độc diễn Bài chòi dân gian Nam Trung Bộ là hình thức trình diễn nghệ thuật cổ truyền độc đáo vào bậc nhất trong kho tàng Di sản nghệ thuật biểu diễn dân gian Việt Nam. Hình thức nghệ thuật này không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có.

Cách đây hơn mười năm, Viện Âm nhạc đã xây dựng một phim tư liệu khoa học về nghệ thuật Độc diễn Bài chòi dân gian Nam Trung Bộ. Người nghệ dân gian tài ba trình diễn trong tập phim này là Nghệ sỹ Nhân Dân Nguyễn Kiểm. Xem ông trình diễn cả đoàn làm phim chúng tôi phải bất ngờ trước tài độc diễn, trước tài hát xướng của ông. Tôi đã có nhiều dịp giới thiệu phim tư liệu này cho nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhiều Giáo sư của các trường Đại học ở châu Âu và châu Á khi họ đến thăm và làm việc với Viện Âm nhạc. Họ có rất nhiều nhận xét ưu ái về nghệ thuật độc diễn này. Một giáo sư người Nhật Bản ở trường Đại học OSAKA nói: “lối độc diễn ca hát dân gian như thế này thế giới không còn nhiều, nếu Việt Nam phát huy được thì quý lắm”.

Cùng với công tác phục hồi nghệ thuật Bài chòi dân gian, cũng rất cần chú ý tới công tác xây dựng các Đoàn Dân ca Kịch Bài Chòi Nam Trung Bộ, mặc dù nó không được có tên trong Hồ sơ di sản Bài chòi hôm nay nhưng nó đã có những đóng góp nghệ thuật có tác dụng xã hội to lớn. Đồng thời các nghệ sỹ của các đoàn Dân ca Kịch Bài Chòi ở Nam Trung Bộ cũng là nguồn nhân lực quan trọng để tham gia phục hồi và phát triển Nghệ thuật Độc diễn Bài chòi dân gian.

Hô bài thai – Độc diễn Bài chòi dân gian – Sân khấu dân ca kịch Bài chòi phải được coi là một chỉnh thể của Di sản nghệ thuật Bài chòi. Mỗi hình thức của chỉnh thể này đã, đang và sẽ tác động lẫn nhau tạo ra thế chân kiềng giúp nghệ thuật Bài chòi có thể trụ vững được trước phong ba của văn hóa truyền thông đa phương tiện toàn cầu. Mặt khác khối chỉnh thể này sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn biện chứng về sự phát triển tự nhiên của nghệ thuật dân gian trong trường kì lịch sử của mình. Từ đấy chúng ta sẽ tìm ra được phương pháp Bảo tồn và phát huy vốn di sản Nghệ thuật Bài chòi Nam Trung Bộ một cách đúng đắn và hiệu quả.

Đặng Hoành Loan

 

Thêm một trao đổi