Cầm học tầm nguyên (Khảo về nghề đờn ở nước ta)

13-10-2022, 14:21

CẦM HỌC TẦM NGUYÊN

  (Khảo về nghề đờn ở nước ta)
  (Nam Phong số 47, Mai 1921)

Minh xuyên Hoàng Yến
Tri huyện Bình Khê, Bình Định

TỰ

Trong đạo trị dân, lấy bốn món làm chủ: Lễ, Nhạc, Hình, Chánh. Nhạc tuy coi như tuồng không có dính chi với trị-đạo, mà cũng quan-hệ lắm, vì là điệu đờn, ca, xướng, hát, tự lòng người mà hiện ra. Cho nên người xưa lấy điệu đờn ca mà coi chánh-trị, phong-hóa. Thiên "Nhạc-kí trong kinh Lễ có nói rằng: "Nhạc giả thông luân lí giả dã; thị cố thẩm thanh dĩ tri âm, thẩm âm dĩ chi nhạc, thẩm nhạc dĩ chi chánh". (樂者通倫理者也.是故審聲以知音.審音以知樂.審樂以知政). Nghĩa là: Nhạc là thông với luân-lí; ấy cho nên xét tiếng mà biết điệu, xét điệu mà biết nhạc, xét nhạc mà biết việc chánh-trị. Nên sách có chữ khen một ông huyện giỏi rằng: "Minh cầm nhi trị"  vì đó nên xưa học sách kinh Thi (詩經) đem ba trăm thiên, nào là Phong (風), nào là Nhã (雅), nào là Tụng (頌), ca mà hòa với đờn; coi như đức Khổng-Tử là một bậc chí-thánh, mới vừa hết tang, đã ôm đến đờn1. Còn người xưa đi học chữ, đều có học đờn, để cho biết thẩm-âm (審音). Hiện bây giờ các nước văn-minh bên Âu-châu, nhất là nước Đại-Pháp, cũng đem điệu đờn mà xen với tiếng học; trong các trường học đều có dạy đờn. Thiệt điệu đờn là một điệu hay, thế mà đến sau lại có nhà nói rằng: "Gia hữu cầm, nữ-tử dâm". Tôi dám chắc rằng nhà đó không rõ điệu đờn, nên nói có sai. Nhưng mà lời nói ấy cũng hữu-sở-nhân. Vì là điệu đờn đến lúc biến-phong(變風), thời nghe ra giọng Trịnh (鄭) Vệ (衛), cho nên nghe tiếng đờn toàn cả dâm-thanh. Nếu nhà đó được nghe chánh-thanh (正聲), thời chắc là không nói lời ấy bao giờ. Trong kinh Thi, thiên Châu-nam(周南) với thiên Thiệu-nam(召南) là chánh-phong (正風), mà đầu thiên Châu-nam lại có thơ Quan-thơ (關雎) nói chuyện cầu một người con gái cho đến nỗi nằm không yên gối, ngủ không ngon giấc như là: (夢寐思服.輾轉反側) mà cho là chánh-phong, vì là cầu mà được chánh, ấy là chánh. Cũng như đờn mà được chánh-thanh, tức là chánh-phong, thời con gái làm sao mà hư được.

Chốn Kinh-thành đây, vốn rừng tơ-đồng, phàm xưa nay những tay đờn hay, đều là người có ở Huế cả. Tôi cũng chả dám tự xưng là cầm-gia-tam-muội, nhưng mà thấy ngón đàn giờ, so với ngón đờn xưa, thiệt là chân trời góc bể. Ngón đờn xưa của ta thời hòa-nhã nghiêm-trang, mà ngón đờn nay thời lắc-sắc tục-tợm, toàn cả dâm-thanh; cho nên tôi sợ điệu đờn quá thánh Trịnh-Vệ, rồi phong- hóa mà tùy theo đó đổi ra biến-phong chăng! Ấy mới tìm-tòi làm ra là ra quyển "Cầm học tầm nguyên" này kẻo để lâu rồi điệu chánh-thanh bọn lần như tro, dẫu sau có ai muốn đẽo-gọt lại nữa, e cũng khó lắm chăng!

Có kẻ hỏi tôi rằng: "Những người đờn xưa hay, nào có ai chế bản gì mới không ? Chớ như đờn nay, tuy không hay mà có bài mới, như là: "Chàng chàng ơi !..." vân-vân... - Tôi đáp rằng: "Điệu đờn cũng như điệu thi, điệu từ vậy. Xưa nay nhiều nhà thi tao, từ nhã, ngâm ra như nhả ngọc phun châu, viết ra như thêu bông dệt gấm, mà thi thời cũng chẳng qua làm luật-thi, triệt-cú, trường-thiên, mà từ thời cũng chẳng qua làm Trúc-chi, Giá-cô, Tây-giang-nguyệt, vân-vân... Nội trong chừng nấy mà cho hay, cũng đã công phu lắm rồi, lựa phải bày thêm điệu mới. Đờn cũng vậy. Bản xưa đờn không hết, huống chi là bày ra bản mới nữa. Cái nhà bày bản mới như là "Chàng chàng ơi !..." đó là cũng như học-trò học chưa hết Thi, Thơ, Lễ, Dịch, Tánh-lí, Xuân-thu, mà đã muốn làm thêm một bộ kinh mới nữa....."

Trước hết tôi cũng chưa dám múa bút khua nghiên, còn ý nhường cho kẻ quảng- bác hơn làm, mà sau những người quen kẻ biết thường cứ khuyên-lơn mãi, tôi mới làm sách này ra, hoặc có ích được ít nhiều chi cho phong-hóa chăng !

Đôi lời quê kịch, nói giạo2 ra đầu.

                                                            Năm Khải-Định thứ 2, mùa đông tháng 10

                                                                                    Hoàng-Yến tự-tự

  I

CẦM HỌC TIỂU DẪN

(琴學小引)

Ai cũng biết rằng đờn là một thứ đứng đầu trong bốn thứ phong-lưu tài-tử: cầm, kì, thi, họa; mà không biết rằng Thánh-nhân xưa nay đờn ra là để chánh-tâm dưỡng-tánh. Sách Bạch-hổ-thông (白虎通) có nói rằng : "Cầm giả cấm dã, cấm chi ư tà, dĩ chánh nhơn-tâm dã" (琴者禁也.禁止於邪.以正人心). Nghĩa là: Cầm là cấm, bày cầm ra để cấm điều bậy, mà sửa cho ngay lòng người. Xưa vua Thuấn đờn cây đờn năm dây, ca bài ca Nam-phong, mà thiên hạ đại-trị; ông Mặc-tử-tiện đờn mà trị dân Đản-Phủ; đức Khổng-Tử ở nước Tề ba tháng, nghe nhạc Thiều mà quên ăn. Cho nên đời xưa đờn có lục kị, thất bất đàn, bát tuyệt, không phải như mình đờn bây giờ, gặp chăng hay chớ.

            Lục kị (六忌)

1- Kị đại-hàn. Hễ lạnh lắm thì vật gì cũng go mình lại, cho nên khi giá trời đờn không hay.

2- Kị đại-thử. Hễ nóng lắm thời vật gì cũng nở ra, cho nên gặp lúc nóng như lửa đốt, đờn không hay.

3- Kị đại-phong. Khi gió thổi ào-ào, cát bay tở-mở, đờn không hay.

4- Kị đại-vũ. Khi mưa như chút xuống, nước đổ lao-xao đờn không hay.

5 - Khi tấn-lôi. Khi dông3 réo vang trời, sấm gầm dậy đất, đờn không hay.

6 - Kị đại-tuyết. Khi tuyết chất đầy đàng, trắng trời sáng đất, đờn không hay.

        Thất bất đàn (七不彈)

1 - Nghe tang không đờn.

2 - Khi nhạc đánh có chuông trống ồn ào không đờn.

3 - Việc-vàn bối-rồi không đờn.

4 - Trong mình không sạch sẽ không đờn.

5 - Khăn áo không chỉnh đốn không đờn

6 - Không xông trầm không đờn.

7 - Không gặp tri-âm không đờn.

Bát tuyệt (八絕)

1 - Thanh (清). Hễ đờn hay, dẫu đụng cây đờn tiếng đục đi nữa, đờn cũng ra trong.

2 - Kì (奇). Khi đờn hay có ngón xuất-kì nhập-điệu, tự-nhiên trổ ra ngón đờn hay.

3 - U (幽). Hễ trong lòng có chuyện gì u-trầm, thời hiện ra nơi ngón đờn. Xưa đức Khổng-Tử đương đờn thầy Tăng-Tử với thầy Tử-Cống đứng bên cửa mà nghe. Khi ngài đờn xong, thầy Tăng-Tử nói rằng: "Y! nghe ngón đờn thầy mình dường như có ý tham-ngân, sao mà bất-nhơn thế. Thầy Tử-Cống đem lời thầy Tăng-Tử nói đó mà thưa lại, thời đức Khổng-Tử nói rằng: "Sâm (tên húy thầy Tăng-Tử) thiệt người hiền trong thiên-hạ, nay đã quen thẩm-âm rồi. Khi ta đương đờn vừa có một con chuột chạy ra, con mèo thấy, mắt lăm-le, chân nhẹ-nhẹ, go mình bò theo rượng mà lần tới, rình bắt con chuột; ta muốn cho bắt được, nên cho ta là tham-nhân cũng phải"4.

4 - Nhã (雅). Ngón đờn tươi mà hòa-nhã, không lụp-chụp lau-chau.

5 - Bi (悲). Khi trong bụng có chuyện gì bất-bằng, thời đờn nghe ra bi-sầu, ai-oán.

6 - Tráng (壯), Khi gặp chuyện gì đắc-ý, thời đờn nghe ra mạnh-mẽ hùng-hào.

7 - Du (攸). Ỷ mình tại chỗ cao xa, thời ngón đờn nghe ra thăm thẳm. Xưa Du Bá-Nha (làm quan thượng-đại-phu nước Tấn) đờn, Chung Tử-Kì nghe mà biết rằng: "dương-dương hồ, chí tại cao-sơn"5.

  1. - Trường (長). Ý mình tại chỗ sâu-xa, thời ngón đờn nghe ra dài-dặc. Bá-Nha đờn mà Tử-Kì biết rằng: "Đãng đãng hồ, chí lưu tại thủy"6.

Ấy là khuôn phép trong điệu đờn, những người muốn học đờn, xin phải cho biết, mới thấm mùi đờn, như không biết mùi, thời chẳng khác chi ăn đồ cao-lương, mà tưởng là giẻ rách. 

II

CẦM HỌC THÔNG KHẢO

Trước khi khảo cứu các thứ đờn, tôi xin kể sơ về "bát âm" (八音) để coi cho biết.

Trong Ngũ-kinh thông nghĩa (五經通義) nói rằng: "tám thứ tiếng là: tiếng đồng (kim 金), tiếng đá (thạch 石), tiếng tơ (ti 絲), tiếng tre (trúc 竹), tiếng kèn (bào 匏), tiếng đất (thổ 土), tiếng da (cách 革) với tiếng gỗ (mộc 木).

Trong Thích-tri tượng-nhạc-lục (釋智樂錄) nói rằng: "Tiếng đồng là những tiếng chuông (鐘), bác (鎛 chuông nhỏ), trác (鐲 chiêng), nao (鐃 chiêng nhỏ); tiếng đá là tiếng khánh (罄); tiếng tơ là tiếng đờn, những là: cầm (琴), sắt (瑟), không-hầu (箜篌), tranh (箏), trúc (筑), tỳ-bà (琵琶); tiếng tre là tiếng trì (箎), địch (笛), thược (蘥), tiêu (簫), quản (管); tiếng đất là tiếng huân (埙), phủ (缶); tiếng da là tiếng trống (鼓 - cổ); tiếng gỗ là tiếng chúc (柷), tiếng ngữ (敔)".

III

CÁC THỨ ĐỜN

Đờn Cầm

Đờn Cầm nguyên Phục-Hy-thị 伏羲氏 bày ra đầu. Sách Kim-cổ kì-quan 今古奇觀 biên rằng: "Xưa vua Phục-Hy thấy chim phụng-hoàng về đậu trên cây ngô-đồng, nghĩ rằng: Chim phụng-hoàng là lớn nhứt trong loài chim, ăn thời chỉ ăn trái tre, uống thời chỉ uống lệ tuyền, đậu thời chỉ đậu cây ngô-đồng mà thôi. Vậy thời cây ngô-đồng là một cây báu nhứt trong loài cây, đem dùng làm nhã-nhạc được". Bèn khiến người đốn cây ngô-đồng xuống, cưa ra làm ba khúc; đem khúc ngọn gõ thử xem, thời nghe tiếng quá trong; đem khúc gốc gõ thử xem, thời nghe tiếng quá đục. Thử đến khúc giữa, thời tiếng đủ nặng, nhẹ, đục, trong. Bèn đem để nơi nước chảy dầm bảy-mươi-hai ngày, nghĩa là theo số khí hậu; rồi lấy lên, để trong im đợi cho khô, mới gạch thước tấc sai người thợ khéo là Lưu-Tử-Kì 劉子奇 đẽo ra mà làm thành đờn, đặt tên là Diêu-cầm 瑤琴. Đờn dài ba thước sáu tấc sáu phân7, nghĩa là theo vành trời có 366 độ (trong sách Cầm-thao  琴操 cho là tượng 366 ngày, tức là nhà thiên-văn Âu-châu ngày nay nói rằng trái đất đi khắp vòng mặt trời 366 ngày), trước rộng tám tấc, nghĩa là theo bát-tiết 八節, sau hẹp bốn tấc, theo tứ-thời (四時), đài hai tấc, tượng lưỡng-nghi 兩儀; trục  ngọc, phiếm ( ) vàng, mười hai phiếm8, tượng 12 tháng, lại thêm một phiếm giữa, tượng tháng nhuận; năm giây, tượng ngũ-hành (五行) mà theo ngũ-âm: cung, thương, giốc, chủy, vũ (宮商角徵羽).

Đến sau Bá Ấp-Khảo con vua Văn-Vương nhà Châu, thêm một dây kêu là dây văn (文絃). Đến đời vua Võ-Vương lại thêm một dây nữa, kêu là dây võ (武絃). Thành ra đờn Cầm có bảy dây : Cung, thương, giốc, chủy, vũ, văn, võ (宮商角徵羽) (hình vẽ 1)

                     H.v.1. Đờn Cầm
                                    
(Vẽ theo thức đờn lễ-khí để tại Tân-Thơ-Viện ở Huế)

 

Trong Tam-lễ-đồ 三禮圖 với Quảng-nhã 廣雅 kêu dây văn, dây võ là dây thiếu-cung 少宮 với thiếu-thương 少商, thời kêu bảy dây là : cung, thương, giốc, chủy, vũ, thiếu-cung, thiếu-thương (宮商角徵羽少宮少商).

Theo trong Tam-lễ-đồ thời dây đầu là cung, dây thứ hai là thương, dây thứ ba là giốc, thứ tư là vũ, thứ năm là chủy, thứ sáu là thiếu-cung, thứ bảy là thiếu-thương. Vậy kể từ dây đầu trở lên, thời bảy bậc là: cung, thương, giốc, vũ, chủy, thiếu-cung, thiếu-thương. So với bậc đờn bây giờ, thời tưởng là: họ, xự, xừ, xàng, xê, cống, phàng  . (合四…上尺工反)

Còn đờn bên Âu-châu cũng bảy bậc: do (đọc là độ), ré (đọc là rê), mi, fa (đọc là pha), sol (đọc là sô-lơ), la, si (đọc xi); so với bậc đờn mình thời bậc đờn Tỳ đúng: họ, xự, xừ, xàng, xê, cống, phàng.

Nguyên đầu bày đờn cầm ra như thức kể trên đó, đến sau các nhà tinh nhạc, lần lần bày thêm đờn nọ, đờn kia. Đời nhà Nguyên (Tàu) có: đờn một dây (nhứt-huyền-cầm), đờn ba dây (tam-huyền-cầm), đờn năm dây (ngũ-huyền-cầm), đờn bảy dây (thất-huyền-cầm), đờn chín dây (cửu-huyền-cầm).

Đờn cầm có nhiều tên : Đời vua Tuyên-Vương nhà Châu đặt tên là Hưởng-phong  (嚮風); đờn của người Thôi-Nhơn (催駰) kêu là Ngọa-Băng (臥冰); của Đái-Quì (戴逵) kêu là Hắc-Lộc (黑鵱); của Trọng-Nhược (仲若) là con Đái-Quy, kêu là Dược-Phường (耀昉), của Liễu Văn-Sướng (柳文暢) kêu là Xuân-Phong ; của Tư-Mã-Tương-Như (司馬相如) kêu là Lục-Ỷ (綠綺); của Thái-Ung (蔡邕) kêu là Tiêu-Vĩ (焦尾) v.v...

Bài đờn Cầm cũng có nhiều tên : Phụng-quy-lâm (鳳歸林), Hạc-lệ-thiên (鶴唳天) Phụng-cầu-hoàng (鳳求凰) v.v...

Các bậc đờn Cầm hay thuở xưa, những là : Bá-Ấp-Khảo (伯邑考), đức Khổng-Tử (孔子), Du Bá-Nha (俞伯牙), Tư-Mã Tương-Như, vân-vân...

                                                                                                                                              H.v.2 Đờn Sắt
(Vẽ theo thức đờn lễ-khí để tại Tân-Thơ-Viện ở Huế)

Đờn Sắt

Trong sách Đế-vương-thế-kỉ 帝王世紀 chép rằng: "Đờn Sắt nguyên của Bào-Hy-Thị 庖犧氏 bày ra, dài bảy thước hai tấc, hai mươi lăm dây". Trong Tam-lễ-đồ lại nói rằng: " Đờn Sắt dài tám thước một tấc, hai mươi ba dây; đờn thường dùng thời mười chín dây". Mà Văn-Tử 文子 với Thi-Tử ㄕ子 đều nói rằng: "Đờn Sắt hai mươi lăm dây). (H.v.2)

Trong sách Tục-văn-hiến-thông-khảo 續文獻通考 nói rằng: Đờn Sắt đời nhà Minh hai-mươi lăm dây, hai bên dây đỏ, sợi giữa dây vàng, kêu là quân-huyền 君絃. Theo như các lời trước đây, thời đờn Cầm đờn Sắt đều dùng dây tơ cả. Cho nên sách có chữ rằng: Ti đồng 絲桐. Xưa có Hồ Ba 弧巴 đờn Sắt hay lắm, cho đến cá cũng nổi lên nghe.


H.v.3. Đờn Tranh

Đờn Tranh

Trong bài Tranh-phú của Nguyễn-Võ 阮瑀箏賦 nói rằng: "Đờn Tranh dài sáu thước, ứng theo số lục-luật 六律, dây mười hai sợi, tượng bốn mùa, trụ cao ba tấc tương tam-tài 三才 ".

Trong sách Phong-lục-thông 風俗通 nói rằng: "Đờn Tranh nghe ra giọng nhà Tần, có người cho là người Mông-Điềm 蒙恬 bày ra".

Ngươi Phó-tử 傅子 lại bác rằng: "Đờn Tranh trên tròn tượng trời; dưới bằng tượng đất; giữa trống, thông lục-hiệp 六合 ; mười hai dây, mười hai trụ (tức là bây giờ kêu là ngựa) tượng mười hai tháng; thiệt là một cây đờn có nhơn-trí; ngươi Mông-Điềm là một tội vong-quốc (nói nhà Tần), há dễ nghĩ được đến chỗ khôn khéo như thế đâu?"

Nhà đó bác cũng hơi ép quá. Phàm người thông-minh trí-tuệ, đời nào lại không có, huống chi nhà Tần cũng còn có bày ra đờn khác nữa. Còn việc thạnh9, suy, hư, vong, tự trời một phần, vua một ít, tôi một ít. Gặp Tần Thủy-Hoàng bạo ngược vô đạo, dẫu cho Mông-Điềm có giỏi đi nữa, cũng không quá Nhị-Thế được. Coi như Trần-Thiệp với Khổng-Minh thời biết.

Còn đờn Tranh của ta đờn bây giờ, thời mười sáu dây, mà dây bằng đồng. (H.v.3). Tuy chưa rõ đời nào bày ra đầu, nhưng cũng định chừng đời nhà Thanh sửa lại, vì là đời nhà Thanh có sửa lễ-nhạc lại nhiều.

Xưa những người đờn Tranh hay là: Tần Tố-Nữ 秦素女, Triệu-Nữ 趙女, Lý Thanh-Thanh 李青青, Sử-Tùng 史從, Lý Tùng-Châu 李從周 cháu nội Lý Thanh-Thanh, vân-vân...

Đờn Trúc

Trong Nhạc-thơ 樂書 nói rằng: "Đờn Trúc hình như đờn Cầm, mười ba dây, cổ nhỏ, vai tròn, khi đờn thời tay trái ôm đờn, tay mặt cầm một miếng tre mà nảy"

Thuyết-văn 說文 lại nói rằng: "Lấy tre mà uốn cong lại, buộc năm dây mà đờn, ấy là đờn Trúc".

Phong-tục-thông lại nói rằng: "Đờn Trúc hình như đờn Sắt". Mà Quảng-Vận 廣韻 lại cho là đờn Trúc hình như đờn Tranh, mười ba dây".

Đờn Không-hầu 箜篌

Thích-danh 釋名 nói rằng: "Đờn Không-hầu nguyên Sư-Diên 師延 đời Xuân-thu bày ra. Sau Sư-Quyên 師涓  đờn cho vua Bình-Công nước Tần nghe, đến khi nước Tần bị nước Trịnh với nước Vệ lấy đất chia nhau, cái đờn đó còn lại, cho nên người ta kêu tên là Không-hầu, nghĩa là không quốc chi hầu.

Trong Phong-tục-thông lại nói rằng: "Đờn Không-hầu lại có một tên là Khảm-hầu 坎篌, đờn ở giữa trống cho nên kêu là Không-hầu".

Trong Sự-vật-kỷ-nguyên 事物紀原 thời nói rằng: "Vua Linh-Đế nhà Hán ưa đờn Không-hầu, đờn ấy hình cong mà dài, hai mươi ba dây, khi đờn thời  kẹp vô trong bụng, mà đờn cả hai tay".

Trong Văn-hiến-thông-khảo 文獻通考 lại nói rằng: "Đời nhà Đàng chế đờn Không-hầu hình như đờn Sắt mà nhỏ, bảy dây, lấy cây khảy mà đờn.

Đờn Tỳ-bà 琵琶 Trong Thích-danh nói rằng : "Đờn Tỳ-bà nguyên ở Hồ làm ra, khi đi đàng ngồi trên ngựa mà đờn. Lấy tay nảy ngược lên, kêu là tỳ, nảy xuôi xuống kêu là , ấy cho nên đặt tên là Tỳ-bà"

Trong Kiều có câu rằng: "Nghề chơi ăn đứt Hồ-cầm một trương", tức là đờn Tỳ-bà đó. Chữ Trương có nghĩa là một cây đờn, sách có chữ rằng: "cầm nhất trương, kì nhất cuộc" vân-vân...

Trong Thích-tri-tượng-nhạc-lục nói rằng : "Đờn Tỳ-bà nguyên người Đỗ-Chí 杜執 nhà Tần làm. Lúc nhà Tần đắp Vạn-lý-trường-thành, dân-sự mệt-mỏi Đỗ- Chí mới bày ra cây đờn ấy để đờn cho vui lòng dân".

Ấy cũng như đời Đông-Châu, ở nước Tề có người Quản-Trọng với người Bào Thúc-Nha kết bạn với nhau thiết lắm. Nhơn nước Tề loạn Quản-Trọng phò Công-tử Củ qua trốn nước Lỗ; Bào Phúc-Nha phò Công-tử Tiều-Bạch qua trốn nước Lữ. Sau Công-tử Tiểu-Bạch về làm vua, hiệu là Hoàng-Công. Thúc-Nha tiến Quản-Trọng cho vua Hoàng-công, bàn sai người sang Lỗ đem Quản-Trọng về, mà sợ Lỗ không cho, nên giả lấy cớ khi tranh ngôi, Quảng-Trọng có vì Công-tử Củ mà bắn Hoàng-công một mũi tên trúng nơi mốc áo, đòi bắt sống Quản-Trọng về mà giết, mới bỏ lên xe đem về. Khi đi giữa đàng, Quản-Trọng sợ người nước Lỗ đuổi theo, bày ra cảnh hát cho quân lính hát cho vui để quên mệt, mà chạy mau cho khỏi đất nước Lỗ. Từ đó về sau hễ khi làm-lụng nhọc-nhằn, người ta hay bắt chước đó mà hát cho đỡ mệt.

Trong Văn-hiến-thông-khảo nói rằng: “Đờn Tỳ-bà trổ ngô đồng ra mà làm, bụng như rùa, cổ như phụng”. Tục-văn-hiến-thông-khảo cũng nói rằng: “Đờn Tỳ-bà đời nhà Nguyên, làm bằng gỗ, đầu cong, cổ dài, bốn trục, giữa cổ có phiếm, mặt rộng, bốn dây”. Tức là đờn ta đờn bây giờ đó. (H.v.4)


H.v.4 Đờn Tỳ-bà

Ngươi Trịnh Hỷ-Tử 鄭喜子 nhà Đàng có dâng cho vua một cây đờn Tỳ-bà bảy dây.

Xưa những người đờn Tỳ-bà hay, là: Châu-Sanh 朱生, Nguyễn Hàm 阮咸, Tôn-Phóng 孫放, Khổng-Luật 孔律, Hạ Hoài-Trí 賀懷智, Khang Côn-Lôn 康崐, Vương-Phàn 王芬, Tào-Bảo 曹保, Tào Thiện-Tài 曹善子 là con Tảo-Bảo, Tào-Cương 曹鋼 cháu nội Tào-Bảo, Bùi Hưng-Nô 裴興奴vân-vân...

Đả cầm hay là Dương cầm (打琴(洋琴)

Đàn Đả-cầm hình như trái cật, bề dài một thước năm tấc, bề ngang một thước, cột bốn-mươi-hai dây bằng đồng, chia ra làm mười bốn bậc, mỗi bậc ba dây, khi đờn thời để đờn trước mặt, hai tay cầm hai miếng tre hình như búa mà đánh, cho nên kêu là Đả-cầm (H.v.5). Đờn này mới có từ nhà Thanh.


 H.v.5 Đờn Đả-cầm

 

Đờn Nhựt 日琴  Đờn Nhựt hình tròn như mặt trời, cho nên kêu là Nhựt. Cần dài bảy tấc, mặt rộng tám tấc, mười phiếm, bốn dây mà hai tiếng, hai dây đài một tiếng, hai dây tiếu một tiếng. (H.v.6)


H.v.6 Đờn Nhựt

Đờn Nguyệt 月琴

Đờn Nguyệt hình như mặt trăng, cho nên kêu là Nguyệt. Người ta cũng kêu một tên nữa là Nguyễn-cầm 阮琴, vì là nguyên của Nguyễn-Hàm 阮咸 người nhà Tấn bày ra.

Đờn này thùng rộng tám tấc rưỡi, dày một tấc rưỡi, cần dài một thước bảy tấc, tám phiếm, bốn dây, lên hai tiếng như đờn Nhựt, mà nay đờn thời chỉ buộc hai dây mà thôi. (H.v.7)

Nhà nhã-nhạc nước mình lấy đờn Tranh, đờn Nguyệt, đờn Tỳ, đờn Nhị với đờn Tam làm ngũ-diệu 五妙 kêu là đờn năm cây. Ấy cho nên người mình, hễ ai đờn hay được cả năm cây, thời cho là bậc phong-lưu, tài-tử.


H.v.7 Đờn Nguyệt

Đờn Nhị 二絃琴

Đờn Nhị tục kêu là đờn Cò, vì là mới học cây đờn này thời kéo hai dây tồn-tang nghe như cò-ke, cho nên kêu là Cò.

Đờn này nguyên là đờn Hồ bày ra, cho nên đờn Tàu hiện bây giờ cũng còn sơ-sài lắm. Lấy một cái gáo dừa soi hai lỗ, tra một cái cần, hình như cái gáo mình múc nước, miệng gáo thời lấy lòng-bóng trâu hay là da mà bịt, cần khoét lỗ xỏ hai trục buộc hai dây, giữa mặt đờn có một con ngựa để kê hai sợi dây; chặng giữa dây có một cái khuyết cột vô nơi cần, muốn đem xuống đem lên tùy-ý, với một cái cung bằng tre buộc lông đuôi ngựa; nơi miệng gáo gần chỗ tra cần, gắn một khối nhựa thông (bạch-tùng-du), khi đờn thời tay trái cầm cần mà nhấn, tay mặt cầm cung kéo qua kéo lại, lông đuôi ngựa dính bột nhựa thông, cọ với dây tơ, vì rít mà kêu.


H.v.8 Đờn Cò

 

Hoặc có nhà không làm bằng gáo dừa, lại làm bằng ống tre, nhưng mà thường thường đờn Tàu cần ngắn, tiếng ét mà xẵng, cho nên người mình mới đổi cách lại cho dịu, sửa lại cho đẹp hơn: tiện ống bằng trắc, hoặc bằng ngà, bịt mặt bằng da kỳ- đà hay da trăn, cần cũng bằng trắc hay là bằng gỗ, mà dài hơn.    năm cây. Ấy cho nên người mình, hễ ai đờn hay được cả năm cây, thời cho là bậc phong-lưu, tài-tử.

Đờn Tam 三絃琴

Đờn Tam buộc ba dây, cho nên kêu tên là Tam. Đờn này hình như đờn Nguyệt mà nhỏ hơn.

Thùng bằng gỗ, rộng năm tấc, dày hai tấc, hai bên bịt bằng da trăn, cần dài một thước năm, tra ba trục, cột ba dây, giữa mặt đờn cũng có ngựa kê dây như đờn Nhị, giữa cần cũng có khuyết, nhưng mà khuyết đờn Nhị thời bằng một cái vòng đồng, chớ khuyết đờn Tam thời bằng một miếng ngà, hay là xương, xoi ba lỗ luồn ba dây qua, khi đờn thời ngồi xếp bằng, kê đờn lên đầu gối chưn mặt10, tay trái ôm cần mà nhấn, tay mặt11cầm một miếng ngà dài chừng hai tấc, rộng chừng tám phân, hay là lấy miếng đồi mồi mà đờn. (H.v.9)


H.v.9 Đờn Tam

Đờn Độc-huyền 獨絃琴

Đờn này tục kêu là đờn Bầu, là vì nơi cần có tra một cái bầu cho âm tiếng.


H.v.10 Đờn Độc-huyền

Đờn Độc-huyền tại Bắc-kỳ bày ra đầu. Lúc trước ở Huế chưa có đờn ấy. Đến năm Thành-Thái thứ tám, có mấy người mù ở đàng ngoài vô, đem theo một cây đờn Bầu, hát xoan, hát xẩm, ngâm Kiều, hễ hát gì thời đờn theo nấy, nghe ra cũng hay, nhưng mà không đờn theo bản đờn Huế được. Từ đó mới có người đem đờn Bầu hiệp theo điệu đờn năm cây mà đờn ra bài ra bản. Đến bây giờ đờn Bầu cũng thạnh-hành lắm, cho đến chốn ngõ hẹp hang cùng, đi đến đâu đâu cũng nghe tiếng đờn Bầu. Vì là hình thức đờn Bầu sơ-sài lắm dễ đóng, không tốn-kém bao nhiêu. Lấy ba tấm ván dài chừng hai thước, rộng chừng bốn tấc, đóng lại như một cái thùng, hai đầu cũng đóng bít lại, một đầu tra một cái cần, giữa cần tra một cái bầu, buộc một sợi dây bằng đồng, giăng thẳng lại đầu kia buộc vô nơi trục mà vặn. Khi đờn thời cầm một mảnh tre vót nhọn khảy mà đờn (H.v.10). Lúc đầu người Bắc mới đem vào thời đờn từ trên khảy xuống, cách ngồi thời ngồi bệt, gác bàn chưn trái lên trên đờn mà kê cho cứng, còn chưn mặt thời dựng gối lên xếp vế sát ngực. Cây đờn thời để phía bên chưn mặt. Nay người ta đờn, thời lại để cây đờn nằm ngang trước mặt, ngồi xếp bằng, chưn mặt gác lên trên đờn mà kèm, còn đờn thời cầm mảnh tre khảy dưới khảy lên. Cách ngồi bây giờ tưởng nhã hơn.

Đờn Cầm-nam 南琴

Đờn Cầm-nam nguyên ông Luân Quốc-công 倫國公 bày ra. Tên húy ngài là Dục 昱. Trong Hoàng-nam-tiền-biên-liệt-truyện 皇南前編列傳 có chép công-nghiệp của Ngài rực- rỡ vẻ-vang lắm. Ngài là một tay rất mực phong lưu, tinh-thông nhã-nhạc; phàm điệu hát, câu hò, bài ca, khúc lý, về tay ngài sửa-sang lại phần nhiều. Ngài thấy điệu hát mình cung cao lắm, đờn xưa ít ăn theo, ngài mới hiệp cả Cầm, Sắt, Tỳ-bà lại một, chế ra một cây đờn mới, kêu tên là Nam-cầm. Đờn ấy thùng dày, hình như quạt lá vả, cần dài ba thước, tám dây (H.v.11). Nam bắc truyền bá ai cũng cho là hay. Ngài có dạy cho một cô hầu ngài đờn hay lắm. Sau cô ấy lại dạy cho chị Đẩu-nương 斗娘. Chị này quê làng An-cựu, phủ Thừa-thiên, lúc còn tóc để vá đào, tên đề nhạc-tịch. Đến khi trăng tròn hoa nở, da tuyết tóc mây, làn thu-thủy, nét xuân-sơn, thiệt là nghiêng thành nghiêng nước, lại thêm đờn hay hát giỏi nữa, cũng khá cho là tài sắc vẹn hai. Sau gặp một ông chồng làm quan tham-tán.

Ông này cũng đờn hay; khi rảnh-rang công-việc, vui cảnh gió trăng, hai vợ chồng trau-nhồi điệu đờn, luyện-tập khúc hay, lúc bấy giờ đờn Cầm-nam không ai hay lọt được.


H.v.11 - Đờn Nam-cầm                     H.v. 12 - Đờn Đáy

Đến khi ông chồng tách miền trần-giới, về cảnh Bồng-lai, thời chị Đẩu-nương thề không đờn nữa. Đến bây giờ đờn Cầm-nam thất-truyền, thiệt tiếc lắm thay!12

Đờn Nhà-trò 歌籌琴

Đờn Nhà-trò tục kêu là đờn Đáy, vì là mặt đờn phía sau khoét thủng; ấy cho nên cũng kêu tên chữ là vô-đề-cầm 無底琴; thùng vuông, cần dài ba thước, ba dây, khi đờn thì cầm một mảnh tre mà khảy (H.v.12), hình thức gần như đờn Cầm nam hay là đờn Cầm nam mà sau họ sửa thức lại chăng ? Đờn Đáy đờn theo điệu hát Nhà-trò, mau, chậm, thấp, cao thiệt hay lắm. Hiện bây giờ người tỉnh Nghệ đờn đờn Đáy hay, vì là tại chỗ Nhà-trò mà ra.

Ở Hà-tĩnh bây giờ có Cửu Đạm đờn hay nhứt ở tỉnh Nghệ An. Trước thời có Cửu Xướng, Cửu Ninh, đờn cũng hay lắm.

Lại nghe tương-truyền rằng đờn Đáy nguyên ông Lý Thiết-Quải 李鐵拐 bày ra. Xưa có hai vợ chồng kia ăn ở nhân từ mà nghèo, cứ đi làm củi đốt than mà ăn. Ngày nọ gặp một ông già cho một cây đờn, biểu tập đờn ca thời giàu-có. Hai vợ chồng đem đờn về nhà không đờn được. Sau lên tìm ông già ấy, thời ông dặn mỗi bữa lên đó ông dạy cho. Đến khi đờn được rồi thời ông già biến mất. Vừa gặp ngày lễ vạn-thọ vua Võ-đế nhà Hán13, hai vợ chồng đến đờn hát. Khi đó có ông Đông Phương-Sóc14 東方朔 nghe bài đờn, cứ lưng-lẻo ngậm-ngùi như là bài đờn đã quan nghe từ khi nào rồi. Mới hỏi ai vẽ cho, thời hai vợ chồng nói hình-dạng ông già dạy đờn ra. Đông Phương-Sóc mới sực nhớ lại là ngón đờn ở cung tiên, nguyên của ông Lý Thiết-Quải đặt. Ấy cho nên làng Cổ-đạm, huyện Nghi-xuân, tỉnh Hà-tĩnh, mỗi khi lễ Nhà-trò tế, thời tế ông Hán Võ-Đế, ông Đông Phương-Sóc, với ông Lý Thiết-Quải. Sự tích đó không biết có thiệt không. Tôi tìm các sách đờn mà chưa thấy rõ.

Ống Sanh  Trong Lễ-kí (.....) nói rằng ống sanh nguyên bà Nữ-Oa 女媧 bày ra. Trong Thuyết-văn nói rằng ống sanh mười-ba ống kết lại một, tiếng như phụng reo.

Văn-hiến-thông-khảo nói rằng đời Hậu-chúa có bày sanh mười-sáu ống. Đời nhà Đàng lại có sanh mười-hai với mười-bảy ống. (H.v.13)

Tục-văn-hiến-thông-khảo nói rằng đời nhà Nguyên có Sào-sanh 巢笙 với Hòa-sanh 和笙 làm bằng tre bông, mười-chín ống.

Xưa có nhiều người thổi sanh hay, những là: Vương Tử-Tấn 王子晉, Đổng Song-Thành 董雙成 là người hầu bà Vương-mẫu ; vua Hoàn-Đế nhà Hán 漢桓帝. Đỗ-Quy 杜夔 người nước Ngụy vân-vân...

 
H.v.13 Ống Sanh
(Vẽ theo trong sách “Thanh triều lễ-khí đồ-thức 清朝禮器圖式 quyển VIII tờ 57)

Hoàng

Ống Hoàng nguyên bà Nữ-Oa bày ra, trong ống có cái lưỡi gà bằng sắt.

Hiện bây giờ ta có thổi thứ ống có lưỡi gà đó, cũng là một thứ Hoàng (H.v.14)

Vu

Thuyết-văn nói rằng Vu làm ba-mươi sáu ống, dài bốn thước tám tấc.

Tiêu         

Thông-lễ-nghĩa-toản 通禮義纂 nói rằng ống Tiêu đời Phục-Hy mười-sáu ống.

Sự-thủy 事始 chép rằng bà Nữ-Oa chế ống Tiêu.


H.v.14 Ống Hoàng                   H.v.15 Ống Tiêu

Phong-tục-thông nói rằng ống Tiêu của vua Thuấn, hình so-le như cánh phụng, mười ống, dài ba thước.

Hiện bây giờ cái kèn của Mọi về chợ phiên hay thổi đó, cũng là một thứ Tiêu chăng ?

Bác-nhã (....) nói rằng Tiêu lớn hai-mươi-bốn ống, không đáy, Tiêu nhỏ mười-sáu ống có đáy. Thứ không đáy kêu là Động-tiêu (....)     

Tục-văn-hiến-thông-khảo nói rằng đời nhà Minh chế ống Tiêu bằng trúc, dài một thước chín tấc năm phân, tròn ba tấc, đầu ông khoét một lỗ, kêu bằng sơn-khẩu 山口 lỗ ấy dùng mà thổi, trước năm lỗ, sau một lỗ (H.v.15)

Ống Tiêu của ta thổi bây giờ, hình thức cũng vậy, đều có nhỏ với ngắn hơn.

Những người xưa thổi ống Tiêu hay, là: Nàng Lộng-Ngọc 弄玉 con vua nước Tần, Tiêu-Sử 簫史, vua Huyền-Đế với vua Linh-Đế nhà Hán, Trương-Lương 張良 vân-vân...

Địch 笛        

Quảng-nhã    廣雅 nói rằng địch bảy lỗ, tức là ống sáo ta thổi bây giờ (H.v.16)

Xưa những người thổi Địch hay, là: Mã-Dung 馬融, Tống-Vĩ 宋椲, Tử-Giã 子野, Nô-Nhan 奴顏. Đời nhà Đàng có Lý-Mô 李谟 hay nhứt trong nước.

Địch có khúc riêng kêu tên là: Chiết-dương-liễu 折楊柳, Mai-hoa-lạc 梅花落, Giá cô  , vân-vân...

Quản       

Quảng-nhã nói rằng Quản như ống Trì, dài một thước, tròn một tấc, sáu lỗ không đáy.

Văn-hiến-thông-khảo nói rằng đời nhà Đàng có chế ống Quản bảy lỗ, kêu là Thất-tinh-quản 七星管, , lại có một lỗ một bên, lấy lụa ruột tre mà dán lại, để cho reo tiếng, kêu là trợ-thanh 助聲. Tức là thứ ống ta thổi ngày nay, mà người mình hay kêu lầm là ống Địch đó (H.v.17). Họ hay lột lụa mo cau, hay là lụa hành củ mà dán lỗ máy. Hoặc hái lá khoai tía, lấy móng tay mà chầy cho hết nhớt, rồi lấy cái lụa mà dán, cũng nhậy lắm. Hoặc lấy giấy hút thuốc tây mà dán cũng được.


   H.v.16 - Ống Địch                        H.v.17  - Ống Quản 

Trì

Thế-bổn 世本 với Tùy-chi 隨志 nói rằng ống Trì nguyên ông Tô Thành-Công 蘇成公, chư hầu đời vua Bình-Vương nhà Châu bày ra, dài một thước, bốn tấc, tám lỗ.

Trần-thị Nhạc-thơ 陳氏樂書 nói rằng ống Trì cũng như ống Địch mà có đáy, thổi ngang, sáu lỗ.                         

Huân    塤

Thế-bổn với Tùy-chi nói rằng Huân nguyên Bạo Tân-Công 暴新公 cũng như chư hầu đời vua Bình-vương nhà Châu bày ra.

Phong-tục-thông nói rằng Huân làm bằng đất to như trứng gà, tròn năm tấc rưỡi, dài ba tấc rưỡi, sáu lỗ ; tức là cái tu-huýt của con nít hay thổi chơi đó, nhưng mà tu- huýt của ta có hai lỗ mà thôi.


 H.v.18 - ống Trì                                           H.v.19 - ống Huân

Thược

Nhĩ-nhã 爾雅 nói rằng ống Thược như ống Địch, điều ngắn và nhỏ hơn, có ba lỗ mà thôi. (H.v.20)


H.v.20 Ống Thược

IV

            NHỮNG NGƯỜI ĐỜN CÓ TIẾNG XƯA NAY

Nước ta số người hơn mười-lăm triệu; mà kể những tay đờn hay cũng không mấy kẻ, ấy mới biết nghề chơi cũng lắm công phu, điệu đờn khó không phải dễ.

Xưa thời có ông Dùng với ông Thắm đờn hay lắm; còn thổi ống Tiêu thời có ông Tam, nên có câu ca rằng: "Nước Nam có bốn mĩ-miều Ngạn cờ, Thiệu vẽ, Tam tiêu, Dùng đờn". Nghĩa là ông Ngạn đánh cờ cao, ông Thiệu vẽ khéo, ông Tam thổi ống tiêu giỏi, ông Dùng đờn hay.

Kế theo hai ông đó, thời có ông Bền với ông Nhờn. Rồi đến cậu Tống Văn-Đạt. Trong bài tựa sách đờn của ngài Nam-Sách, ngài có nói rằng: "Cậu Đạt nguyên là một tay phong lưu lắm, thường cứ tới-lui chơi-bời với những danh-công cự-khanh, ai ai cũng trọng". Đến sau nữa thời có cậu Ba-Toán; ông Phò 24, tên húy là Trần Quang-Phổ; Đội Chín con cậu Đạt; Đội Phước con Đội Chín. Đội Chín giữ được sách nhà, đờn xưng tuyệt-diệu; đức Dực-Tôn ưa lắm, cho làm suất đội Nhạc-chánh; đến khi Đội Chín mất, ngài ngự thương lắm, truyền đòi con  đến, hỏi con thử có nối nghiệp được không, thời cậu Phước đờn cũng hay. ngài bèn cho kế theo Đội Chín mà coi Nhạc-Chánh; cậu Thứ; ông bá Yến, người Minh-hương; cậu Khánh; cậu Trương-Sáu; ông Thông-phán Châu Hữu-Ninh, ông Bố Trương Trọng-Hữu, cậu Cung ở Kim-luông; ông Hoàng-giáp Phạm Như-Xương người làng Ngân-câu (Quảng-nam); ông Tấn sĩ Đỗ Huy-Liêu người Bắc-kỳ; Ông Cử Lê-Cảnh, người làng Bích-la (Quảng-trị).

Đờn bà thì có chị Tứ với chị Thiện, nguyên người Nội ra. Chị Tứ đờn hay cả năm cây, thêm trống phách cũng giỏi nữa.

Trong Hoàng-phái thời có ngài Nam-Sách. Ngài Nam-Sách chẳng những là Tranh, Nguyệt, ngài xưng tuyệt-diệu, mà cây đàn Tỳ-bà ngài cũng quán đương-thời. Ngài nguyên học với cậu Đạt. Trong bài tự sách của ngài, có nói rằng: "Ngài rước cậu ấy về học đến năm năm, mới được truyền y-bát. Ngài Tương-An, ngài Tuy-an, hay cây đờn Tỳ-bà; ông, Tịnh-Kỳ, con ngài Định-Viễn ; ông Thông-phán Tôn-thất Toại, hay cả đờn Tỳ với đờn Tranh; ông, Thị Tôn-Thất Linh; ông Hầu-Chí. Ông này đờn Nguyệt chỉ hay được bài cổ-bản mà thôi, mà cũng đã nổi tiếng rằng: " Đờn Hầu-Chí, lí Hiệu-Giồ". Cũng như xưa Tống-Kỳ làm thi có một câu hay: "Hồng-hạnh chi đầu xuân-ý náo" 紅杏枝頭春意鬧, thời nổi tiếng rằng "Hồng-hạnh Thượng-thơ". Ấy mới biết đờn với thi cũng như nhau, hễ hay được một bài, một câu chi, thời cũng đã có tiếng. Ngài Mỹ-Hóa thổi ống Tiêu tuyệt-diệu.

Kể về người bây giờ thời có: ông Trợ-Dõng, tên húy là Ưng-Dũng 應衝, phòng ngài Gia-Hưng được truyền y-bát, ngón đờn đàng-bệ lắm; những người ngồi nghe ông Trợ-Dõng đờn, dường như đến chỗ điện-đài cung-các, nghi-vệ nghiêm-trang, tự-nhiên trong mình ké-né không dám ồn ào. Ông hay đờn Nguyệt mà đờn Tranh cũng hay nữa. Ông Phủ Thông, tên húy là Đoàn-Diệu15 段耀 ở An-cựu, đờn thằng-mặc lắm.

Ông Kiểm-thảo Trần Trịnh-Soạn 陳貞譔, họ hay kêu là câu Cả Soạn, người Minh-hương (Thừa-Thiên), hay cả Tranh, cả Nguyệt, nguyên đắc-pháp của ngài Nam-Sách; ngón đờn tươi lắm, ít ai sánh được, nghe tiếng đờn như rồng múa phụng reo, diều bay cá nhảy, dẫu ai trong bụng có việc rối trăm chiều, sầu chất muôn hộc đi nữa, nghe đến tiếng đờn của ông Kiểm Soạn, thời vui lòng khỏe dạ, hớn-hở mặt mày, nào sầu não đi đâu không biết. Ông Kiểm Soạn chẳng những là đờn hay, mà cờ tướng thiệt quán trong cả nước. Bốn thứ phong lưu chiếm được hai.

Cửu Tâm, tên thiệt là Nguyễn Chánh-Tâm 阮正心 người Kế-môn (Thừa-thiên), ở Quảng-trị, hay cả Tranh cả Nguyệt, nguyên học ông Đội Phước với ông Trợ Dõng.

Ông Hầu Ưng-Biều 應表 thường hay kêu là mệ Chín-Thành, đờn tuy đủ cả sáu cây, mà được xưng tuyệt diệu thời được cây đờn Nhị với cây đờn Độc-huyền; nghe ngón đờn rúc-rỉa đến xương, thiệt như oán, như tố, như khấp, như mộ.

Quan Tuần Nguyễn Khoa-Tân 阮科濱, người An-cựu (Thừa-thiên), hiện làm tuần- phủ Hà-tĩnh, đờn tranh hay.

Quan Thị Ưng-Ân 應蒽, phòng ngoài Tuy-Lý, hiện làm Thị-lang bộ Học. cậu ấm Phan Đình-Uyển16 潘廷苑 thường hay kêu là cậu ấm Ba, người Phú-lương (Thừa-thiên), đờn cây đờn Độc-huyền cũng hay, mà thổi ống Tiêu, thời hiện bây giờ không ai sánh được; tuy thập Tri, đội Thức (đều người nhạc chánh) có tiếng ống Sáo hay mặc dầu, mà đến ống Tiêu, thời cũng phải nhường bước trước cho cậu ấm Ba.

Cậu Khóa-Hài, tên thiệt là Ngô-Phổ 吳譜, người làng Bác-vọng (Thừa-thiên), hiện ở tại An-cựu, đờn tuy có hới nay, nhưng mà rộng.

Đờn-bà thời bấy giờ còn có cô Phò 24, người dòng Nguyễn-Khoa, làng An-cựu (Thừa-thiên), với cô Khỏe17, con cậu Cung, hiện làm bạn với ông đốc Soạn (ông Phò 24 với cậu Cung đã kể trước này rồi), đờn Tranh hay. Cô Phủ Sáu đờn cũng được mà ca hay lắm.

Ấy là các bậc đờn còn giữ cốt-cách trong điệu chánh-thanh. Người biết đờn cũng còn nhiều, mà thiên về Trịnh-Vệ, hễ hỏi đến cung-điệu nhịp-nhàng, thời lờ mờ không sách-hoạch gì hết.

Hoặc cũng còn tay đờn hay nữa, mà không có tên vào đây, là tại tôi không có duyên nghe họ đờn, hay là họ không có duyên mà gặp tôi chăng?

(Kỳ sau dạy cách đờn và có in các bài đờn)

                                                                                                Minh-xuyên Hoàng-Yến
                                                                                   Tri huyện Bình Khê (Bình-định)
                                                                                                           (còn nữa)

Theo Nghiên cứu Âm nhạc số 65 tiếng Việt

Chú thích:

1. 孔子既祥五日彈琴而不成聲十日而成笙歌)
2. Giạo: dạo
3. Dông: giông
4. Hàn-thi ngoại truyện 韓詩外傳)
5. Lã-thị Xuân-thu (呂氏春秋)
6. Lã-thị Xuân-thu (...)
7. Thước tấc trong này đều theo thước mộc, nhưng không rõ thước xưa có đúng theo thước nay hay không. Thước mộc bây giờ bằng 4 tấc tây (0m40)
8. Phiếm: phím
9. Thạnh: Thịnh
10. Chưn mặt: chân phải
11. Tay mặt: tay phải
12. Nam-cầm-khúc diễn-nghĩa-ca  南琴曲演義歌
13. Hán Vũ Đế: trị vì 31 tháng 7 năm 156 TCN đến 29 tháng 3, năm 87 TCN
14. Đông Phương Sóc (khoảng 154 TCN - 93 TCN)
15. Ông Đoàn-Diệu mới qua đời năm Khải-Định thứ 3
16. Cậu ấm Ba đã qua đời năm Khải-Định thứ 4
 17. Cô Khỏe cũng đã mất năm Khải-Định thứ 3 rồi

 

                                                    

Thêm một trao đổi